Thường Tịch Quang

《常寂光》 cháng jì guāng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ (), là cõi Tịnh Độ nơi Pháp Thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 Quốc Độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (), Tịch Quang Quốc (), Tịch Quang Độ (), Tịch Quang (). Thế Giới an trú của chư Phật là bản tánh Chân Như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường []), không bị Phiền Não nhiễu loạn (tức tịch []) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang []), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là Quốc Độ chư Phật tự chứng Bí Tạng tối cùng cực, lấy Pháp Thân, giải thoát và Bát Nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường (), Lạc (), Ngã () và Tịnh (). Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (, Taishō 9, 393) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở An Lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (, đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được An Lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, Quốc Độ này được phân thành Phần Chứng ()Cứu Cánh () với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ () cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân () cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (), cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác () là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (), cõi của Viên Giáo () từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (). Ngoài ra, vị tăng nhà Bắc Tống là Tứ Minh Tri Lễ () lấy hai cõi Thật Báo ()Tịch Quang () phối hợp thành Thỉ Giác ()Bản Giác (), để xướng ra thuyết “Tịch Quang Hữu Tướng (, Tịch Quang Có Tướng)”; ngược lại vị tăng Tịnh Giác () lại tuyên xướng thuyết “Tịch Quang Vô Tướng (, Tịch Quang Không Tướng).” Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải () của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (, 1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Phục thứ, chỉ thử nguyện Trang Nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi Thanh Tịnh Hải Hội, chuyển Kiến Trược vi Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi Liên Hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi Vô Lượng Thọ; cố nhất thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư Ngũ Trược Ác Thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp (, lại nữa, chỉ lấy nguyện này Trang Nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca Chứng Đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận () quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự () có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ (便便, một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”