Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự

《禪源諸詮集都序》 chán yuán zhū quán jí dōu xù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Zengenshosenshūtojo: 2 quyển, trước tác của Khuê Phong Tông Mật () nhà Đường, được san hành vào năm thứ 7 (1062) niên hiệu Gia Hựu () nhà Tống, là tác phẩm thâu tập các yếu ngữ, kệ tụng có liên quan đến Huyền Nghĩa của Thiền Môn từ các trước thuật của chư vị trong hệ thống Thiền Tông, lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (), xem đây như là kho tàng của Thiền với ý nghĩa “Đô Tự ()”. Nó còn có tên gọi khác là Thiền Na Lý Hành Chư Thuyên Tập (), có nghĩa là Tập Giải thích kỹ lưỡng đạo lý căn nguyên của Thiền. Nói tóm lại, nó luận rõ bản nguyên của Thiền là Bản Giác chơn tánh của tất cả Chúng Sanh, chứng được bản nguyên ấy gọi là Tuệ, tu tập bản nguyên ấy gọi là Định và trải qua quá trình lý của Thiền, hành của Thiền và thể của Thiền. Hơn nữa, Thiền có 5 loại: Ngoại Đạo Thiền (), Phàm Phu Thiền (), Tiểu Thừa Thiền (), Đại Thừa Thiền (), và Tối Thượng Thừa Thiền (). Về Tối Thượng Thừa Thiền, tác phẩm này giải thích rằng: “Tối Thượng Thừa Thiền diệc danh Như Lai Thanh Tịnh Thiền, diệc danh Nhất Hành Tam Muội, diệc danh Chơn Như Tam Muội, thử thị Nhất Thiết Tam Muội căn bản, nhược năng Niệm Niệm tu tập, tự nhiên tiệm đắc bách thiên Tam Muội, Đạt Ma môn hạ triển chuyển tương truyền giả, thị thử Thiền dã (, Tối Thượng Thừa Thiền còn có tên gọi khác là Như Lai Thanh Tịnh Thiền, cũng có tên là Nhất Hành Tam Muội, lại có tên là Chơn Như Tam Muội; đây là căn bản của tất cả Tam Muội, nếu có thể mỗi niệm tu tập nó, tự nhiên dần dần đạt được trăm ngàn Tam Muội; Pháp Môn mà môn hạ của Đạt Ma thay nhau truyền thừa chính là Thiền này)”. Đối với Thiền, Khuê Phong thuộc môn hạ của Hà Trạch Tông () và từng kế thừa dòng pháp của Toại Châu Đạo Viên (); nhưng đồng thời đối với Hoa Nghiêm Tông (), ông lại kế thừa Thanh Lương Trừng Quán () và trở thành vị tổ thứ 5; cho nên ông là nhân vật dung hợp cả Giáo và Thiền. Do đó, trong tác phẩm này ông đã tạo sự điều hòa cuộc đấu tranh giữa các nhà Giáo gia cũng như Thiền gia, làm sáng tỏ cả Giáo và Thiền đều có 2 phương diện đốn tiệm như nhau và phải nói rằng ông là luận giả hệ thống hóa nhất trí tư tưởng Thiền và Giáo. Theo bản Trùng Khắc Thiền Nguyên Thuyên Tự () của Cổ Nhữ Chu () với tên gọi Minh Tàng Bản (), chúng ta biết có bản ấn tạo vào năm thứ 8 (tức năm thứ 7 [1062] niên hiệu Gia Hựu []) niên hiệu Thanh Ninh (). Ngoài ra, còn có bản năm thứ 7 (1303) niên hiệu Đại Đức (), Phúc Tống Bản () do Triều Tiên khai bản vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (), v.v. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn () và năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (祿). Sách chú thích có Thiền Nguyên Tập Đô Tự Trước Bính () của Hối Am Đại Sư Định Tuệ () người Triều Tiên, Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự Khoa Mục Tinh Nhập Tư Ký () của Liên Đàm Hữu Nhất (), v.v.

Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/thien-nguyen-chu-thuyen-tap-djo-tu. Truy cập 06/04/2026.