Thập Bát Địa Ngục

《十八地獄》 shí bā dì yù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Thập Bát Tằng Địa Ngục (), Thập Bát Trùng Địa Ngục (), Thập Bát Nê Lê (). Theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, vua Diêm La () là đứng đầu các Địa Ngục, 18 vị thuộc hạ Phán Quan Theo chủ quản 18 tầng Địa Ngục. Sau khi truyền vào nước này, Phật Giáo đã lấy tư tưởng này để dùng và giải thích về các tầng Địa Ngục. Mười Tám Tầng Địa Ngục trong Thập Bát Nê Lê Kinh () do An Thế Cao () nhà Đông Hán dịch, lấy sự dài ngắn, tội hình, đẳng cấp, sự nhẹ nặng trong thời gian thọ tội để bài liệt thành. Mỗi Địa Ngục so với Địa Ngục trước tăng thêm nỗi khổ lên 20 lần, tăng tuổi thọ thêm 1 lần. Mười Tám Tầng Địa Ngục này có âm dịch Phạn văn như: Quang Tựu Cư (), Cư Hư Thối Lược (), Tang Cư Đô (), Lâu (), Phòng Tốt (), Thảo Ô Ti Thứ (), Đô Lô Nan Đán (), Bất Lô Bán Hô (), Ô Cánh Đô (), Nê Lô Đô (), Ô Lược (), Ô Mãn (滿), Ô Tạ (), Ô Hô (), Tu Kiện Cư (), Mạt Đô Can Trực Hô (), Khu Thông Đồ (), Trần Mạc (). Chữ “tầng ()” trong Mười Tám Tầng Địa Ngục không phải chỉ cho phương trên dưới về mặt Không Gian, mà đối với thời gian cũng như hình pháp vốn bất đồng, cho nên nó có ý nghĩa về mặt thời gian nhiều hơn. Tầng Địa Ngục thứ nhất lấy tuổi thọ con người 3750 năm là 1 ngày, 30 ngày là 1 tháng, 12 tháng là 1 năm, tội quỷ chịu hình phạt ở chốn Địa Ngục này đến 1 vạn năm (tức 135 ức năm trên cõi người). Thời gian thọ hình phạt ở các tầng Địa Ngục sau thì lấy thời gian thọ hình ở đia ngục trước tăng lên gấp hai lần. Thuyết về Mười Tám Tầng Địa Ngục vốn phát xuất từ Bà La Môn Giáo của Ấn Độ ngày xưa và về sau có những thay đổi khác. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh () quyển 5 có nêu rõ 18 loại Địa Ngục (Sanskrit: naraka, niraya, Pāli: niraya ) nhỏ như A Tỳ Địa Ngục (), 18 Địa Ngục Lạnh (, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (, Thập Bát ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Trong Lương Thư () có kể câu chuyện Lưu Tát Hà () người Hồ do bị bệnh nặng mà chết, nhưng 10 ngày sau thì sống lại và ông tự cho rằng đã đi qua 18 tầng Địa Ngục. Như vậy, đến thời nhà Lương, Tín Ngưỡng về 18 tầng Địa Ngục đã rất thịnh hành và lưu truyền trong dân gian Trung Quốc. Ngoài ra, tên gọi của 18 tầng Địa Ngục này có khác nhau tùy theo các thư tịch Kinh Điển. Theo Gián Địa Ngục Kinh (), 18 tầng Địa NgụcNê Lê Địa Ngục (), Đao Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Núi Đao), Phí Sa Địa Ngục (, Địa Ngục Cát Sôi), Phí Thỉ Địa Ngục (, Địa Ngục Phân Sôi), Hắc Thân Địa Ngục (, Địa Ngục Thân Đen), Hỏa Xa Địa Ngục (, Địa Ngục Xe Lửa), Hoạch Thang Địa Ngục (, Địa Ngục Vạc Nước Sôi), Thiết Sàng Địa Ngục (, Địa Ngục Giưòng Sắt), Cái Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Vung Núi), Hàn Băng Địa Ngục (, Địa Ngục Băng Lạnh), Bác Bì Địa Ngục (, Địa Ngục Lột Da), Súc Sanh Địa Ngục (, Địa Ngục Súc Sanh), Đao Binh Địa Ngục (, Địa Ngục Đao Binh), Thiết Ma Địa Ngục (, Địa Ngục Mài Sắt), Băng Địa Ngục (, Địa Ngục Băng), Thiết Sách Địa Ngục (, Địa Ngục Sách Sắt), Thư Trùng Địa Ngục (, Địa Ngục Con Giòi), Dương Đồng Địa Ngục (, Địa Ngục Nấu Đồng). Trong Thủy Lục Toàn Đồ () có Bạt Thiệt Địa Ngục (, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Tiễn Đao Địa Ngục (, Địa Ngục Dao Cắt), Thiết Thọ Địa Ngục (, Địa Ngục Cây Sắt), Nghiệt Kính Địa Ngục (, Địa Ngục Kính Yêu), Chưng Lung Địa Ngục (, Địa Ngục Lồng Hơi Nóng), Đồng Trụ Địa Ngục (, Địa Ngục Trụ Đồng), Đao Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Núi Đao), Băng Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Núi Băng), Du Oa Địa Ngục (, Địa Ngục Nồi Dầu), Ngưu Kháng Địa Ngục (, Địa Ngục Hầm Trâu), Thạch Áp Địa Ngục (, Địa Ngục Đá Đè), Thung Cữu Địa Ngục (, Địa Ngục Cối Xay), Huyết Trì Địa Ngục (, Địa Ngục Hồ Máu), Uổng Tử Địa Ngục (, Địa Ngục Chết Uổng), Trách Hình Địa Ngục (, Địa Ngục Phanh Thây), Hỏa Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Núi Lửa), Thạch Ma Địa Ngục (, Địa Ngục Mài Đá), và Đao Cứ Địa Ngục (, Địa Ngục Cưa Dao). Tại thành của Phong Đô Quỷ (), hai bên đại điện của Thiên Tử có chia thành Đông Địa Ngục và Tây Địa Ngục. Đông Địa Ngục gồm Ma Thôi Địa Ngục (, Địa Ngục Mài Kéo), Oạt Tâm Địa Ngục (, Địa Ngục Móc Tim), Hỏa Lạc Địa Ngục (, Địa Ngục Áp Lửa), Hàn Thủy Địa Ngục (, Địa Ngục Nước Lạnh), Đao Sơn Địa Ngục (, Địa Ngục Núi Đao), Xa Liệt Địa Ngục (, Địa Ngục Xe Nghiền), Thư Trùng Địa Ngục (, Địa Ngục Con Giòi), Bác Bì Địa Ngục (, Địa Ngục Lột Da). Tây Địa Ngục có Đối Thung Địa Ngục (, Địa Ngục Cối Xay), Cứ Giải Địa Ngục (, Địa Ngục Cưa Xẻ), Du Oa Địa Ngục (, Địa Ngục Nồi Dầu), Bạt Thiệt Địa Ngục (, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Bổ Kinh Địa Ngục (, Địa Ngục Vá Dây), Chuyển Luân Địa Ngục (, Địa Ngục Chuyển Luân), Súc Sanh Địa Ngục (, Địa Ngục Súc Sanh)Hoạch Thang Địa Ngục (, Địa Ngục Vạc Nước Sôi).