Phù Nam Quốc

《扶南國》 fú nán guó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Bạt nam, Ấp tâm, Các mậu. Nước Phù nam (Funan), tên xưa của Kampuchia, nằm về phía nam của bán đảo Trung nam. Cứ theo Lương hải nam chư quốc truyện 48 và Thông điển quyển 188, vào thời đại Tam Quốc, thế lực của nước Phù nam đã dần dần được mở rộng, nước Ngô từng sai các Sứ Giả như Khang tần, Chu ứng… đến Phù nam. Mới đầu, các sứ Tàu thấy người Phù nam đều ở truồng, sứ Tàu khuyên họ mặc quần áo, họ mới khoác tấm vải trên mình và quấn váy. Niên hiệu Vĩnh ninh năm đầu (301) đời Tây Tấn, Quốc Vương Phù nam sai sứ sang Trung Quốc triều cống 1 pho tượng Phật bằng vàng có khắc rồng và tháp bằng ngà voi; như vậy đủ biết, ngay từ thế kỉ III, IV, Phật giáo đã được truyền đến Phù nam. Theo Nam Tề thư liệt truyện 39 thì vào năm Vĩnh minh thứ 2 (484) đời Nam Tề, vua Phù nam là Kiều trần như sai đạo nhân Thích Na Già tiên, người Thiên Trúc, đến Trung Quốc triều cống tượng Long Vương ngồi và tháp bằng ngà voi.Trongdịp này, sứ Phù nam Thích Na Già tiên dâng thư nói rằng nước Phù nam là đất được thần Ma hê thủ la thiên bảo hộ, cũng là nơi Phật Pháp Lưu Thông. Cứ theo Lịch Đại Tam Bảo Kỉ quyển 11, vào đầu năm Thiên giám (502-519), Sa Môn nước Phù nam là Mạn Đà la tiên mang kinh tiếng Phạm sang Trung Quốc triều cống, rồi cùng với ngài Tăng Già Bà La ở Dương đô cùng dịch các kinh gồm 3 bộ, 11 quyển, như kinh Bảo Vân... Đến năm Thiên giám thứ 5 (507), 2 vị lại dịch các kinh, luận gồm 11 bộ, 38 quyển, như kinh A Dục Vương, luận Giải thoát đạo... Theo Lương thư hải nam chư quốc truyện 48, năm Đại Đồng thứ 5 (539), vua Vũ đế nghe nước Phù nam có sợi tóc Phật dài 1 trượng 2, liền phái Sa Môn Vân bảo sang nghinh tiếp, lại gặp Tam Tạng Chân Đế đang ở nước này, bèn thỉnh ngài về Trung Quốc. Căn cứ vào các ghi chép trên đây, người ta được biết, trước đời Đường, chẳng những Phật giáo Đại Thừa đã được truyền bá ở Phù nam mà ngay cả những bộ luận quan trọng của Phật giáo Nam truyền cũng đã được lưu hành ở xứ này. Cho mãi đến khi Ấn Độ Giáo được Sùng Bái thì Phật giáo mới bắt đầu suy thoái dần, đó chính là tình trạng được miêu tả trong lời Tựa của Nam hải kí qui Nội Pháp truyện (Đại 54, 205 trung): Vua bạo ác đã hủy diệt tất cả, không còn chúng tăng, chỉ có các Ngoại Đạo ở lẫn lộn. Nước Phù nam đến đầu đời Đường vẫn còn là 1 nước độc lập, nhưng đầu năm Trinh quán (627-649) thì bị nước Chân lạp thôn tính sáp nhập. Sau khi vua Phù nam hợp nhất với Chân lạp thì khoảng đầu thế kỉ IX, vua Jayavarman II đóng đô ở Angkor Thom, cách Tonlé-Sap về mạn bắc khoảng 22 km và bắt đầu xây dựng các cung điện, Già Lam... trải qua 10 triều đại, đến thế kỉ XII mới hoàn thành, cùng với Bolo-Budur ở đảo Java là 2 viên ngọc trong nghệ thuật kiến trúc của nhân loại hiện còn đến ngày nay. Cách Angkor Thom về phía nam khoảng 1,6 km có Angkor-Vat do vua Sùryavarman II xây dựng vào giữa thế kỉ
XII. Angkor Thom và Angkor-Vat vốn là các kiến trúc thuộc Phật giáo, như tượng thần thế Tự Tại (Phạm:Lokezvara) khắc ở thành Angkor chính là tượng Quan thế âm của Phật giáo. Về sau, vì Phật giáo suy vi nên 2 kiến trúc này mới dần dần bị đổi lại làm thành các đền thờ của Ấn Độ Giáo. Vào thế kỉ XIV, Phật giáo Nam truyền được du nhập Phù nam, thế mạnh của Phật giáo dần dần được khôi phục, Angkor Thom và Angkor-Vat được đặt dưới sự quản chưởng của chư tăng Thái lan, trong các Điện Đường đều đặt tượng Phật, Bồ Tát để thờ. Đến thế kỉ XV, người Thái lan công hãm thành Angkor, Vương triều Khmer phải dời về phía nam, Angkor trở thành hoang vu, lâu dần bị cây rừng nhiệt đới trùm lấp mất. Mãi đến thế kỉ XIX, hai học giả người Pháp là các ông Henri Monkot và P. Pelliot mới tìm ra, kho tàng cổ tích Angkor được coi là 1 trong những kì quan của Thế Giới và tình hình Phật giáo nước Phù nam đã từng thịnh đạt 1 thời cũng được lịch sử ghi nhận. Trước thời cộng sản, Phật giáo là quốc giáo của Kampuchia, Quốc Vương thống lãnh cả chính trị và Tông Giáo. Nhiệm vụ của tăng sĩ, ngoài việc dùng văn tự Kampuchia viết chép Tam Tạng Pàli, còn phụ trách các nghi thức cầu cúng và giáo dục quốc dân. Nhưng sau khi Khmer đỏ thống trị thì tất cả hoạt đông Tông Giáo đều bị nghiêm cấm, chùa tháp, kinh tượng bị phá hủy, chúng tăng buộc phải Hoàn Tục...[X. Tục Cao Tăng Truyện Q. 1.; Chân Đế truyện; Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện Q.thượng; Tùy thư Nam Man truyện 47; Cựu đường thư Nam Man truyện 147; Minh Sử chân lạp truyện 212; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Le Cambodge par E. Aymonier; History of Indian and Eastern Architecture, vol. II by J. Fergusson].