Phật Giáo Vũ Đạo

《佛教舞蹈》 fó jiào wǔ dǎo

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Nghệ thuật nhảy múa trong Phật giáo. Ấn Độ từ nghìn xưa đã thấy có ghi chép về nghệ thuật nhảy múa, như được tường thuật trong Lê Câu Phệ Đà. Nay trong văn học Phật truyện cũng thấy miêu tả vũ đạo trong cung đình, như vậy đủ biết ở thời Đại Đức Phật vũ đạo đã được phổ biến. Nhưng, trong Phật giáo, Tăng Chúng bị cấm Chỉ Không được xem nghe ca vũ nhạc kịch, qui định này đã thấy trong mười giới Sa Di; song Tín Đồ Phật giáo Tại Gia thì không bị chi phối bởi qui định này. Qua các tác phẩm kịchnghệ như Xá Lợi Phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa –Những điều ngài Xá Lợi Phất nói) của Bồ Tát Mã Minh, Long Vương Chi Hỉ (Phạm: Nàgànanda –Niềm vui mừng của rồng chúa) của vua Giới nhật, hoặc theo sự miêu tả trong các tác phẩm văn học truyện Bản sinh (Phạm: Jàtaka), cho đến các di tích điêu khắc ở Sơn Kì (Phạm: Sànchi), các bức bích họa trong chùa hang A chiên đa (Phạm: Ajantà)…... người ta có thể hiểu rõ tình hình vũ đạo của Tín Đồ Phật giáo Tại Gia. Tuy nhiên, nghệ thuật Vũ đạo ở Ấn Độ cổ đại lấy các đền thờ của Ấn Độ Giáo (Bà La Môn Giáo) làm trung tâm phát triển, chứ không có vũ đạo đặc biệt của Phật giáo.Văn hiến xưa nhất liên quan đến vũ đạo là luận Bà ra đa (Phạm: Bhàratìya Nàỉyazàtra–khoảng thế kỉ III, IV), nội dung nói về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật vũ đạo truyền thống Ấn Độ. Vũ đạo được kết hợp với Tông Giáo bắt đầu từ việc tế lễ thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Đến nay, các nước như Miến điện, Thái lan, Indonesia...… cũng kế thừa truyền thống vũ đạo này, nhưng vẫn chưa phát triển thành vũ đạo Phật giáo. Ở Tây tạng, vũ đạo khởi đầu vào khoảng thế kỉ IX, từ đó, Lạt Ma Giáo chuyên dùng vũ đạo trong việc cúng tế, thông thường gọi là Khiêu quỉ (nhảy múa xua đuổi quỉ ma). Có các chủng loại như: Cúng dường vũ, Địa trấn vũ, Phất ác quỉ vũ…... Về sau, vũ đạo trở thành 1 trong những nghi thức đặc thù của Lạt Ma Giáo. Tại Hàn quốc, vào thời đại nhà Lí (1392-1897), Phạm Bái rất thịnh hành, điệu Tăng vũ của vũ đạo Phật giáo cũng theo đó mà phát triển mạnh. Tăng vũ khởi nguồn rất sớm, ít nhất cũng đã tồn tại từ thời đại Cao li (936-1391). Đến thời đại nhà Lí, vũ đạo Phật giáo rất được chú trọng. Tức vào thời Lí thế tổ năm thứ 5 (1460), vũ điệu Liên Hoa đài và nhạc khúc Linh thượng hội thượng được sáng chế cùng lúc. Khi trình diễn, trước hết, bài trí núi Hương sơn, ao hồ, chung quanh vẽ hoa nhiều màu, treo lồng đèn, 2 bên đông, tây vũ đài đều bày hoa sen, sau đó, các vũ công bắt đầu nhảy múa, đồng thời, ngâm xướng Phật kệ như Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Quan âm tán để hòa theo nhạc khúc và vũ điệu. Tại Nhật bản, vũ đạo được truyền vào từ các nước Ấn Độ, Tây vực, Trung Quốc, Hàn quốc...… thường được dùng trong các nghi thức Phật Giáo Như cúng dường, lễ hội…... sau phát triển thành vũ đạo đặc biệt của Phật giáo, được triều đình tán trợ, nhờ đó vũ đạo Phật giáo hưng thịnh qua nhiều thời đại. Ngoài ra, chư tăng Nhật bản cũng phát triển 1 điệu múa đặc thù để giáo hóa dân chúng, gọi là Bố Giáo vũ đạo(điệu múa truyền giáo). Nghĩa là vừa Niệm Phật, vừa ngâm vịnh, xướng họa, lại đánh chuông trống để hòa theo nhịp bước nhảy múa. Loại Bố Giáo vũ đạo này được gọi chung là Niệm Phật dũng, Niệm Phật dược, Dũng Niệm Phật, Dũng dược Niệm Phật, Hoan Hỉ Niệm Phật...… Như Không Dã Niệm Phật (cũng gọi Bát khấu Niệm Phật) do ngài Nhất Không dã thuộc tông Thiên thai sáng chế; Dũng Niệm Phật do ngài Nhất Biến –Tổ khai sáng Thời Tông– thành lập, Đề Mục dũng, Đại nhật dũng, Vu lan bồn dũng…... đều là các điệu múa của Phật giáo Nhật bản kết hợp với nghệ thuật múa địa phương mà phát triển thành vũ đạo dân gian, và cũng là 1 trong những sắc thái rất đặc thù của nền văn hóa Nhật bản ngày nay.