Pháp Ấn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Pháp Ấn. Phạm: Dharma-mudrà. Đồng nghĩa: Pháp bản mạt, Pháp bản, Tướng, Ưu Đàn Na (Phạm: Udàna). Chỉ cho dấu ấn, đặc chất của Phật Pháp. Ấn cũng có nghĩa là chân thực bất biến, là chuẩn mực chứng minh sự chân chính của Phật Pháp, cho nên gọi là Pháp Ấn. Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 6 của ngài Cát Tạng cho rằng, ấn là Ấn Định các Pháp Không thể dời đổi. Lại lấy văn làm ấn, dùng văn để Quyết Định lí, nếu lí và văn tương ứng với nhau thì đó là lí chân thực, nên gọi là Pháp Ấn. Như Nhất Thiết hành vô thường, Nhất Thiết Pháp Vô Ngã và Niết Bàn Tịch Tĩnh trong kinh Tạp a hàm quyển 10, được gọi là Tam Pháp Ấn. Hoặc Nhất Thiết hành vô thường, Nhất Thiết Hành Khổ, Nhất Thiết Pháp Vô Ngã và Niết Bàn Tịch Tĩnh, được gọi là Tứ Pháp Ấn, Tứ ưu Đàn Na. Nếu lại thêm Nhất Thiết Pháp không vào nữa, thì gọi là Ngũ Pháp ấn. Cứ theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 8, thượng, thì Tam Pháp Ấn là Pháp Ấn của Tiểu Thừa, còn Đại Thừa thì chỉ có 1 Pháp Ấn Chư Pháp Thực tướng gọi là Nhất Thực tướng ấn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q. 18.; kinh Đại Bát Niết Bàn Q. 13. (bản Bắc); kinh Bồ Tát Địa trì Q. 8.; luận Đại trí độ Q. 32.; Câu xá luận quang kí Q. 1.].
II. Pháp Ấn. Gọi đủ: Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị. Chỉ cho vị Tăng Cương cao nhất ở Nhật bản, tức là ngôi vị Tăng chính. Chức vị của chư tăng ở Nhật bản vốn có 3 bậc: Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Hai chức Tăng Cương và Phàm tăng đều có thể được trao cho 3 chức vị này, không chia vị hiệu, cũng không có tôn ti. Vào năm Trinh quán thứ 6 (864), ngài Chân nhã tâu lên Thiên hoàng Thanh hòa, ngoài 3 bậc trên, xin chế định thêm 3 chức vị nữa là: Pháp Kiều Thượng Nhân vị, Pháp nhãn Hòa Thượng vị và Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị, là những chức vị trên Luật Sư. Chức Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị phải do cấp bậc Tăng chính đảm nhiệm, chức Pháp nhãn Hòa Thượng vị phải do cấp bậc Tăng đô đảm nhiệm và chức Pháp Kiều Thượng Nhân vị thì do cấp bậc Luật Sư đảm nhiệm. Từ đó, chế độ Tăng Chức ở Nhật bản mới có vị hiệu và tôn ti. (xt. Tăng Quan).
II. Pháp Ấn. Gọi đủ: Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị. Chỉ cho vị Tăng Cương cao nhất ở Nhật bản, tức là ngôi vị Tăng chính. Chức vị của chư tăng ở Nhật bản vốn có 3 bậc: Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Hai chức Tăng Cương và Phàm tăng đều có thể được trao cho 3 chức vị này, không chia vị hiệu, cũng không có tôn ti. Vào năm Trinh quán thứ 6 (864), ngài Chân nhã tâu lên Thiên hoàng Thanh hòa, ngoài 3 bậc trên, xin chế định thêm 3 chức vị nữa là: Pháp Kiều Thượng Nhân vị, Pháp nhãn Hòa Thượng vị và Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị, là những chức vị trên Luật Sư. Chức Pháp Ấn đại Hòa Thượng vị phải do cấp bậc Tăng chính đảm nhiệm, chức Pháp nhãn Hòa Thượng vị phải do cấp bậc Tăng đô đảm nhiệm và chức Pháp Kiều Thượng Nhân vị thì do cấp bậc Luật Sư đảm nhiệm. Từ đó, chế độ Tăng Chức ở Nhật bản mới có vị hiệu và tôn ti. (xt. Tăng Quan).