Pháp Tính Sinh Thân

《法性生身》 fǎ xìng shēng shēn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Thân hóa sinh ngoài 3 cõi của Phật và các bậc Đại Bồ Tát, là 1 trong 5 loại Pháp Thân của Như Lai, 1 trong 2 thứ thân của Bồ Tát. Sinh Thân này thể Chứng Pháp tính, được vô sinh Pháp Nhẫn, khác với nhục thân ở trong bào thai hoặc do nghiệp chiêu cảm; thân Như Lai chính đã sinh ra từ thân Pháp Tính này. Nếu phối hợp với 3 thân thì thânnày tương đương với Báo Thân Phật mà ngài Cát Tạng đã nói. Pháp Tính Sinh Thân của đức Phật có vô lượng vô số A Tăng Kì các vị Bồ Tát Nhất Sinh Bổ Xứ theo hầu. Đó là vì trong vô lượng A Tăng Kì kiếp Phật đã chứa góp các Công Đức Thiện Căn, cho nên làm việc gì cũng Thành Tựu, nguyện nào cũng viên mãn. Còn Bồ Tát, sau khi được Vô sinh Pháp Nhẫn, xả bỏ nhụcđể thụthân đời sau; vì Bồ Tát thể nhập được sức vô sinh nhẫn, nên không còn các Phiền Não, đã chẳng Chứng Quả Nhị Thừa, lại cũng chưa Thành Phật, vì Thế ThânBồ Tát thụ trong khoảng đó cũng gọi là Pháp Tính Sinh Thân. Pháp Hoa Huyền Luận quyển 8 đem Nhục thân trong 2 loại thân của Bồ Tát phối hợp với Phần Đoạn Sinh Tử mà đem Pháp Tính Sinh Thân phối hợp với Biến Dịch Sinh Tử. Hàng Nhị ThừaBồ Tát Pháp Thân tuy có Pháp Tính Sinh Thân, nhưng đều tùy phần mà lãnh thụ; còn Pháp Tính Sinh Thân của Phật thì có năng lực chiếu suốt Pháp Tính, cho nên Pháp Tính Sinh Thân chân thực duy chỉ có Phật mới chứng được mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q. 28., 29; Pháp Hoa Huyền Luận Q. 9.; Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q. 7.].