Pháp Thực

《法食》 fǎ shí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa. (1) Chỉ món ăn Như Pháp. Như trong Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao (, Taishō Vol. 40, No. 1804) quyển Hạ có dẫn lời dạy của Kinh Tăng Nhất A Hàm rằng: “Như Lai sở trước y danh viết Ca Sa, sở thực giả danh vi Pháp Thực (, áo do Như Lai mặc gọi là Ca Sa, thức ăn Ngài dùng tên là Pháp Thực).” (2) Chỉ cho bữa ăn đúng ngay giữa trưa, trong khoảng giờ Ngọ (theo Âm Lịch là từ 11 giờ đến 1 giờ chiều). Ba đời các đức Như Lai đều lấy giờ Ngọ làm giờ ăn, nên gọi là Pháp Thực thời (, thời gian ăn đúng pháp, Như Pháp); và quá ngọ thì gọi là phi Thực Thời (, không phải thời gian ăn). Trong Thích Thị Yếu Lãm (, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có dẫn lời của Tỳ La Tam Muội Kinh () rằng: “Phật vị Pháp Huệ Bồ Tát thuyết tứ Thực Thời, nhất đán thời, vi Thiên Thực; nhị Ngọ thời, vi Pháp Thực (, đức Phật vì Bồ Tát Pháp Huệ thuyết bốn lúc ăn, một lúc sáng sớm là trời ăn, hai lúc giờ Ngọ là ăn đúng pháp).” (3) Chỉ việc lấy pháp làm thức ăn để nuôi lớn Huệ Mạng, để tu hành thành đạo. Như trong 5 điều Quán Tưởng trước khi thọ nhận món ăn, được đề cập trong Học Luật Phát Nhận (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển 3, điều thứ 5 nhấn mạnh rằng: “Vị thành đạo cố, phương thọ thử thực (, vì thành đạo nên mới thọ nhận món ăn này).” (4) Chỉ cho Thực Vật dùng cho cúng tế. Như trong Bạch Thạch Thần Quân Bi () của một Tác Giả vô danh nhà Hán có đoạn: “Huyện giới hữu lục danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn, tiên đắc Pháp Thực (, trong phạm vi huyện có sáu danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn thì được thức ăn dâng cúng đầu tiên).”