Pháp Thượng

《法上》 fǎ shàng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hōjō, 495-580: vị tăng sống dưới thời Bắc Triều, xuất thân vùng Triều Ca (, thuộc Huyện Kì [], Hà Nam []), họ Lưu (), lúc 9 tuổi đã đọc được Kinh Niết Bàn, sớm có chí xuất trần. Năm lên 12 tuổi, ông theo Xuất Gia với Thiền Sư Đạo Dược (), chuyên tâm cầu đạo, thông hiểu kinh luận, người đời gọi là Thánh Sa Di. Sau ông nương Luật Sư Huệ Quang () thọ Cụ Túc Giới, tinh thông nghĩa lý, tuyên giảng Thập Địa Kinh Luận (), Lăng Già Kinh (), Niết Bàn Kinh (), v.v., và soạn văn sớ cho các bộ kinh này. Năm 40 tuổi, ông vân du giáo hóa ở Hoài Châu (), Vệ Châu (). Nhân có vị đại tướng nhà Ngụy Cao Trừng () thỉnh cầu, ông vào kinh đô nhà Nghiệp nhậm chức Tăng Thống. Đến khi nhà Bắc Tề hưng thịnh, vua Văn Tuyên Đế (, tại vị 550-559) tôn ông lên làm Quốc Sư, thường hầu hạ cung phụng như Phật. Suốt hai thời đại Ngụy và Tề, trong gần 40 năm ông đã quản lý hơn 40.000 ngôi chùa và khoảng 20 vạn tăng ni. Vị Thừa Tướng nước Cao Cú Lệ () mến mộ danh tiếng của ông, cho chư tăng đến hỏi về ngày tháng đản sanh của đức Phật, Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, v.v. Đến thời kỳ pháp nạn diệt Phật hủy Thích của vua Võ Đế thời Bắc Chu, ông phải ẩn náu dưới hình thức Thế Tục. Vào năm thứ 2 (580) niên hiệu Đại Tượng (), sau khi tụng kinh Duy Ma và Thắng Man xong, ông Thị Tịch, hưởng thọ 86 tuổi. Trước tác ông để lại cho hậu thế có Tăng Nhất Số Pháp () 40 quyển, Đại Thừa Nghĩa Chương () 6 quyển, Phật Tánh Luận () 2 quyển, Chúng Kinh Luận () 1 quyển, v.v. Môn đệ của ông có Huệ Viễn (), Pháp Tồn (), Đạo Thận (), Linh Dụ (), Dung Trí (), v.v.