Phân Biệt Luận Giả

《分別論者》 fēn bié lùn zhě

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Vibhajya-vàdin. Pàli: Vibhajja-vàdin. Hán âm: Tì bà xà Bà Đề, Tì bà xà phược địa. Cũng gọi Phân Biệt Luận sư, Phân Biệt thuyết bộ. Chỉ cho 1 phái Luận sư chuyên phân tích, biện biệt nghĩa lí các pháp đến chỗ rốt ráo. Phái Luận sư này chủ trương các thuyết như: Ngũ Căn vô lậu, Duyên Khởi Vô Vi, A La Hán vô thoái, Tam Giới vô trung hữu... đều là đồng nghĩa và hợp với Tông Chỉ căn bản của Hóa Địa Bộ Tiểu Thừa. Đại Chúng Bộ, Nhất Thuyết Bộ, Thuyết Xuất Thế BộKê Dận Bộ chủ trương tất cả Như Lai không có pháp Hữu Lậu, Phật không ngủ nghỉ, tâm tính vốn thanh tịnh... cũng giống với lập trường của Phân Biệt Luận Giả. Có thuyết cho rằng Ẩm Quang Bộ (thuộc Thượng Tọa Bộ)Thuyết Giả Bộ (thuộc Đại Chúng Bộ) cũng được gọi là Phân Biệt Luận Giả. Thượng Tọa Bộ lưu truyền ở Tích lan vốn thuộc về Phân Biệt thuyết bộ. Học thuyết của Thượng Tọa Bộ được truyền bá ở phương Nam, hoàn toàn chẳng phải Chính Tông, các sử gia Phật giáo Ấn Độ đều xem học thuyết ấy là do Thượng Tọa Bộ truyền riêng và thường dùng tên Phân Biệt thuyết để khu biệt. Ở Tây tạng có rất nhiều thuyết khác nhau về Phân Biệt thuyết bộ, đại để cho rằng Phân Biệt thuyết bộ là 1 phái độc lập, liên quan mật thiết với Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Từ Phân Biệt thuyết bộ lại chia ra các bộ: Hóa địa, Đồng diệp, Ẩm Quang... Còn Ấn Độ chi Phật giáo của ngài Ấn Thuận cho rằng Phân Biệt thuyết bộ thuộc về Thượng Tọa Bộ, thành 1 hệ riêng, rồi từ đó lại chia ra 4 bộ: Hóa địa, Ẩm Quang, Pháp Tạng(Xích)Đồng diệp (truyền ở Tích lan). [X. luận Câu xá Q. 20.; luận Đại tì Bà Sa Q. 5., 18, 19, 23; Nhiếp Đại Thừa Luận Thích Q. 2. (Vô tính); luận Thành Duy Thức Q. 3.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 4., phần đầu; Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng Q. 4., phần đầu; Câu xá luận quang kí Q. 20.; Ấn Độ Phật Giáo sử (Đa La Na Tha); Giáo đoàn phân liệt tường thuyết]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).