Minh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Vidyà. Pàli: Vijjà. Hán âm: Phí đà, Bật đà. Sự thấy biết sáng tỏ, thấu suốt. Chỉ cho trí tuệ của bậc Thánh, có năng lực phá trừ tối tăm, ngu muội mà tỏ ngộ Chân Lí. Cứ theo Phật Địa Kinh Luận thì Minh hay phá trừ sự tối tăm, vì thế lấy tuệ làm tự tính. Vì minh trái với Vô Minh nên lấy Thiện Căn vô si làm tự tính. Cứ theo kinh Tam Chuyển Pháp Luân thuộc Kinh Điển Phật giáo nguyên thủy, thì tu 8 Thánh Đạo, hiểu lí 4 đế, sẽ Thành Tựu nhãn (mắt), trí, minh, giác (đều là những chữ chỉ cho trí tuệ), đạt được Niết Bàn. Luận Đại tì Bà Sa quyển 102 cho rằng tuệ Hữu Lậu Thiện vốn có khả năng thông suốt, hiểu rõ, nhưng không thể nào quyết nghi, Phân Biệt và Hiện Quán được 4 Thánh Đế, vì thế không được gọi là minh, mà chỉ có Thánh tuệ vô lậu mới gọi là minh. Sở dĩ như thế là vì giữa bậc Thánh Hữu Học và Vô học có khác nhau. Đối với bậc Thánh Vô học có năng lực Thù Thắng thì Túc trụ thông, Sinh Tử thông và Lậu Tận thông trong 6 Thần Thông có thể phá trừ sự ngu tối trong 3 đời Quá Khứ, vị lai và hiện tại, đây gọi là Tam minh của Vô học. Trong đó, Lậu Tận thông là chân minh Thắng Nghĩa; còn Túc trụ thông và Sinh Tử thông cũng gọi là Minh, vì 2 thông này thuận theo Chân minh vô lậu (Lậu Tận minh), do đó có chút ảnh hưởng của tướng minh, nên tạm gọi là Minh. Chữ PhạmVidyà là do ngữ căn Vid (tri, biết) mà ra, vì thế Minh cũng chỉ cho tri thức, học vấn. Ở Ấn Độ, tất cả học vấn đều thuộc trong Ngũ Minh như Thanh Minh, Nhân Minh v.v... Ngoài ra, các Chân Ngôn Đà La Ni có năng lực phá trừ si ám, tiêu diệt chướng nạn, nên cũng được gọi là Minh. Mật giáo gọi chung ấn khế và Chân Ngôn là Ấn minh. Theo luận Đại tì Bà Sa quyển 2 thì Thế Gian có các luận chú như: Chi minh, Sự minh, Thú minh, Khổng tước minh, Chú long xà minh, Hỏa minh, Thủy minh, Mê loạn minh v.v... Đức Phật là bậc đã trọn đủ 3 minh và hạnh nghiệp của thân khẩu, cho nên ngài được tôn xưng là Minh hạnh túc trong 10 Tôn Hiệu của Ngài. Hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên, do quán xét thực tướng các pháp trong 3 đời mà tỏ Ngộ Tự tâm, cho nên trong 5 thứ Bồ Đề thì Bồ Đề Minh Tâm là Bồ Đề mà hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên tỏ ngộ. Theo phẩm Thập Minh trong kinh Hoa Nghiêm quyển 28 (bản 60 quyển), thì hàng Bồ Tát Thập Địa có đủ 10 Loại Trí minh như sau:1. Tha Tâm Trí minh.
2. Thiên nhãn trí minh.
3. Túc mệnh trí minh.
4. Vị lai tế trí minh.
5. Thiên Nhĩ Trí minh.
6. Thần Lực trí minh.
7. Phân Biệt ngôn âm trí minh.
8. Sắc Thân Trang Nghiêm trí minh.
9. Chân thực trí minh.
10. Diệt định trí minh. Nhưng kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) dịch là Thần Thông, vì thế mười trí minh cũng gọi là mười thông. [X. kinh La Ma trong Trung A Hàm Q. 56.; kinh Đại Bát Niết Bàn Q. 18. (bản Bắc); luận Câu Xá Q. 27.; luận Tập dị môn túc Q. 3.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 20. phần đầu].
2. Thiên nhãn trí minh.
3. Túc mệnh trí minh.
4. Vị lai tế trí minh.
5. Thiên Nhĩ Trí minh.
6. Thần Lực trí minh.
7. Phân Biệt ngôn âm trí minh.
8. Sắc Thân Trang Nghiêm trí minh.
9. Chân thực trí minh.
10. Diệt định trí minh. Nhưng kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) dịch là Thần Thông, vì thế mười trí minh cũng gọi là mười thông. [X. kinh La Ma trong Trung A Hàm Q. 56.; kinh Đại Bát Niết Bàn Q. 18. (bản Bắc); luận Câu Xá Q. 27.; luận Tập dị môn túc Q. 3.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 20. phần đầu].