Kinh Lượng Bộ
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: Sautrāntika: hay Tăng Già Lan Đề Ca (Sanskrit: Saṃkrāntika, 僧伽蘭提迦), còn gọi là Tu Đa La Luận Bộ (修多羅論部), Thuyết Độ Bộ (說度部), Thuyết Chuyển Bộ (說轉部), Thuyết Kinh Bộ (說經部), Kinh Bộ (經部); là một trong 20 bộ phái của Phật Giáo Tiểu Thừa, là bộ phái phân liệt từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sanskrit: Sarvāstivādin, 說一切有部). Vị tổ khai sáng ra phái này là Cưu Ma La Đà (Sanskrit: Kumāralabdha, 鳩摩羅駄, còn gọi là Đồng Thọ [童受]), xuất thân nước Đát Xoa Thỉ La (呾叉始羅) của Ấn Độ vào thế kỷ thứ
3. Trước tác của ông có Dụ Man Luận (喩鬘論), Si Man Luận (癡鬘論), Hiển Liễu Luận (顯了論), v.v. Thất Lợi La Đa (Sanskrit: Śrīlāta, 室利羅多) thuộc thế ký thứ 4 là vị tổ Trung Hưng của phái này. Trong khi Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ xem trọng luận thư thì Kinh Lượng Bộ lại xem trọng kinh thư hơn, lấy kinh là chánh lượng, nên có tên gọi như vậy. Bộ phái này lập ra Nhị Nguyên Luận tâm và vật, phủ định thuyết vạn vật thật có của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, công nhận chỉ có Tứ Đại và tâm là thật có, do Tứ Đại và tâm nương nhau mà thành, khiến cho Sanh Tử của cá thể tương tục, không đoạn. Bên cạnh đó, họ còn chủ trương chỉ có hiện tại là thật tại, Quá Khứ từng trãi qua thực tại, và tương lai là cái thực tại có được mà chưa đến, cái không tồn tại trong hiện tại là một loại tồn tại có Chủng Tử. Đây chính là nguồn gốc của thuyết Duy Thức Chủng Tử (唯識種子) sau này. Giáo nghĩa của bộ phái này có nhiều yếu tố của Phật Giáo Đại Thừa, được xem như là cơ sở cho Phật Giáo Trung Quán (中觀) về sau. Vị tổ khai sáng ra Kinh Lượng Bộ có trước tác Dụ Man Luận, khéo dùng hình thức Thí Dụ để Thuyết Pháp, nên được gọi là Thí Dụ Sư (譬喩師). Cho nên, sau này Thí Dụ trở thành một đặc trưng lớn của phái này, cũng được xem như là cơ sở của văn học Thí Dụ của Phật Giáo Đại Thừa.
3. Trước tác của ông có Dụ Man Luận (喩鬘論), Si Man Luận (癡鬘論), Hiển Liễu Luận (顯了論), v.v. Thất Lợi La Đa (Sanskrit: Śrīlāta, 室利羅多) thuộc thế ký thứ 4 là vị tổ Trung Hưng của phái này. Trong khi Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ xem trọng luận thư thì Kinh Lượng Bộ lại xem trọng kinh thư hơn, lấy kinh là chánh lượng, nên có tên gọi như vậy. Bộ phái này lập ra Nhị Nguyên Luận tâm và vật, phủ định thuyết vạn vật thật có của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, công nhận chỉ có Tứ Đại và tâm là thật có, do Tứ Đại và tâm nương nhau mà thành, khiến cho Sanh Tử của cá thể tương tục, không đoạn. Bên cạnh đó, họ còn chủ trương chỉ có hiện tại là thật tại, Quá Khứ từng trãi qua thực tại, và tương lai là cái thực tại có được mà chưa đến, cái không tồn tại trong hiện tại là một loại tồn tại có Chủng Tử. Đây chính là nguồn gốc của thuyết Duy Thức Chủng Tử (唯識種子) sau này. Giáo nghĩa của bộ phái này có nhiều yếu tố của Phật Giáo Đại Thừa, được xem như là cơ sở cho Phật Giáo Trung Quán (中觀) về sau. Vị tổ khai sáng ra Kinh Lượng Bộ có trước tác Dụ Man Luận, khéo dùng hình thức Thí Dụ để Thuyết Pháp, nên được gọi là Thí Dụ Sư (譬喩師). Cho nên, sau này Thí Dụ trở thành một đặc trưng lớn của phái này, cũng được xem như là cơ sở của văn học Thí Dụ của Phật Giáo Đại Thừa.