Kiền Đà La Quốc

《犍馱羅國》 jiān tuó luó guó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Kiền đà la, Phạm:Gandhàra, Gàndhàra, Gandha-vati. Pàli:Gandhàra, Gàndhàsa. Cũng gọi: Kiền đà việt, Càn đà việt, Càn đà vệ, Càn đà la, Kiền đà, Kiền đà ha, Càn đà ba na hoặc Nghiệp ba la (Phạm:Gopàla). Dịch ý: Hương địa, Hương khiết, Diệu hương, Trì địa. Tên một nước nhỏ thuộc Ấn Độ thời xưa, nằm về phía bắc lưu vực Ngũ hà, hạ du sông Kabul, thuộc Tây bắc Ấn Độ hiện nay. Lãnh thổ nước này thường thay đổi, khi Á Lịch Sơn Đại đế (Alexander the Great) Đông chinh (thế kỉ IV trước TL.) thì kinh đô ở Bố Sắc Yết La Phạt Để (Phạm:Puwkaràvatì) nằm về phía đông bắc cách Bạch Hạ ngõa (Phạm: Peshawar) hiện nay khoảng 19,6 km. Vào thế kỉ thứ I, vương triều Quí sương (Phạm:Kushan) nổi dậy ở phương bắc, dần dần mở rộng biên cương, thôn tính vùng Kabul, đến khi vua Ca nị sắc ca lên ngôi thì đóng đô ở Bố Lộ Sa Bố La (Phạm:Puruwapura), tức Peshawar hiện nay. Sau khi vua băng, thế nước mỗi ngày một suy, đến thời vua Kí Đa La thì dời thành Bạc la về phía tây, để con ở lại giữ phía đông, đó chính là Tiểu nguyệt chi. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 2, thì nước này chiều ngang đông tây hơn 1000 dặm, chiều dọc nam bắc hơn 800 dặm, phía đông tới sông Tín độ (Phạm: Sindhu), đô thành là Bố Lộ Sa Bố La, Vương tộc tuyệt tự, lệ thuộc nước Ca tất thí, làng ấp hoang vắng, dân cư thưa thớt. Cứ đó mà suy thì vào thế kỉ thứ VIII nước này đã suy tàn. Trong các Kinh Điển Phật Giáo Như Bản sinh (Pàli: Jàtaka), Câu na la Bản Duyên trong truyện A Dục Vương quyển 3, kinh Đại Phương Đẳng đại tập quyển 55, phẩm Trì Chính Pháp trong kinh Đại Bi quyển 2, Đại Trang Nghiêm Kinh Luận quyển 1 và quyển 4, kinh Phật Mẫu đại Khổng Tước Minh Vương, v.v... đều có nói đến nước Kiện đà la. Theo Thiện kiến luật tì Bà Sa quyển 2, chương 8 trong Đảo Sử và chương 12 trong Đại sử, thì sau Đại hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3, vì muốn truyền bá Phật Pháp ở vùng Biên Địa, nên vua A dục đã phái Đại Đức Mạt xiển đề (Pàli:Majjhantika) đến các nước Kế tân, Kiện đà la giảng nói kinh Độc Thí Dụ (Pàli:Àtivisopama-sutta) cho dân chúng nghe; nghe xong, có 80.000 người Đắc Quả, 1000 người Xuất Gia. Kiền đà la vốn là trung tâm của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, nhưng Tăng Chúng nước này lại chịu ảnh hưởng của Đại Chúng Bộ và hấp thu tư tưởng Đại Thừa. Cứ theo kinh Đạo Hành Bát nhã quyển 9 và luận Đại tì Bà Sa quyển 178, thì kinh Bát Nhã đã được lưu hành ở nước này rất sớm. Dưới triều đại vua Ca nị sắc ca, có rất nhiều vị Cao Tăng ra đời như các ngài: Vô trước, Thế Thân, Pháp cứu, Hiếp Tôn Giả, v.v... Đại Thừa Phật Giáo nhờ đó mà phát triển mạnh. Nhưng từ thế kỉ VI về sau, Phật giáo không còn được nhà vua hộ trì, nên rơi vào tình trạng suy đồi; về sau, tuy có vua Đột quyết khôi phục lại một thời gian, nhưng đến thế kỉ X lại bị Tín Đồ Hồi giáo bách hại, nên Phật giáo ở Kiện đà la cuối cũng đã bị tuyệt tích. [X. Hi Lân Âm Nghĩa Q. 3.; Tuệ nhật truyện trong Tống Cao Tăng Truyện Q. 29.; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q. 3.; Tuệ uyển Âm Nghĩa Q.hạ; Tuệ siêu vãng Ngũ Thiên Trúc truyện tiên thích; A. Cunningham: Ancient Geography of India; V.A. Smith: Early History of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I].