Khải Thỉnh

《啓請》 qǐ qǐng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Adhyewanà, adhyewita. Phụng Thỉnh chư Phật trước khi tụng kinh. Như xướng: Na mô Lăng Nghiêm Hội thượng Phật Bồ Tát trước khi tụng văn chú Thủ lăng nghiêm. Trong nghi thức Vọng hối lược Bố tát, tức là mỗi tháng vào ngày mồng 1 và ngày rằm, cử Hành Nghi thức Bố tát vắn tắt, thì sau khi đọc văn Sám Hối, xướng rằng: Na mô Quá Khứ Thất Phật, Na mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Na mô Văn thù Bồ Tát, Na mô Phổ Hiền Bồ Tát, Na mô Quan thế âm Bồ Tát, Na mô Di Lặc Bồ Tát, Na mô Lịch đại Tổ Sư Bồ Tát, v.v... đây là Khải Thỉnh, sau đó mới xướng Tứ hoằng Thệ Nguyện. Nhưng trong nghi thức tống táng, thì khi tụng chú Lăng nghiêm, không cử Hành Nghi thức Khải Thỉnh. Mật giáo thì dùng Khế ẤnChân Ngôn để Khải Thỉnh. Như trong pháp Kim Cương Giới, kết tụng ấn ngôn Đạo Tràng quán, Đại Hư Không tạng, Tiểu Kim Cương Luân, v.v... và chuẩn bị đầy đủ luân đàn xong, thì Kết Ấn ngôn để triệu thỉnh Bản Tôn Thánh Chúng ở các Tịnh Độ phương khác, thầm hội Nhất Thể với Bản Tôn của Đạo Tràng đang tu quán. [X. kinh Phật Mẫu đại Khổng Tước Minh Vương Q. thượng; phẩm Thỉnh Phật Kinh Lăng già Q. 1.; môn Phúng xướng trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên]. (xt. Bình Cử, Khuyến Thỉnh).