Hiếp Tôn Giả
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Hiếp, Phạm:Pàrzva. Dịch âm: Ba lật thấp phạ, Ba xa. Dịch ý: Nan sinh (khó sinh). Luận sư Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và là Tổ Truyền Pháp thứ 10 của Thiền Tông Ấn Độ, vì ngài Tinh Tiến tu hành, không hề nằm nghỉ (vị tằng hiếp ngọa) nên người đương thời gọi ngài là Hiếp Tôn Giả, Hiếp tỉ khưu, Hiếp la hán, Trưởng lão hiếp, Cần tỉ khưu (tỉ khưu siêng năng, v.v...). Ban đầu, Tôn giả là một vị Phạm Chí. Năm 80 tuổi ngài mới Xuất Gia, bị các tỉ khưu trẻ chê cười là già cả suy yếu, không tiến tu được, mới lạm dự vào hàng Xuất Gia để mưu cầu việc ăn no mà thôi. Tôn giả nghe những lời dèm pha ấy liền tự Phát Nguyện: Nếu không thông suốt lí Tam Tạng, dứt trừ Tham Dục để được 6 Thần Thông và 8 giải thoát, thì trọn đời quyết không đặt lưng xuống chiếu (hiếp bất chí tịch) . Trải qua 3 năm, Tôn giả đã dứt hết Tham Dục trong 3 cõi, chứng được Tam minh. Sau Tôn giả theo ngài Phật Đà Mật Đa học thêm về ý chỉ sâu xa của Phật Pháp và đã chứng được quả A La Hán. Bấy giờ ở Trung Ấn Độ có ngài Mã Minh học theo Bà La Môn có tài hùng biện, tranh luận với các vị tỉ khưu nhằm công kích Phật giáo, trong giới tăng sĩ không ai địch lại, nên Phật giáo ở Trung Ấn Độ rơi vào tình trạng suy đồi. Hiếp Tôn Giả muốn cứu vãn vận mệnh của Phật giáo, liền đến thành Hoa thị biện luận với Mã Minh, Mã Minh bị chiết phục và xin theo Tôn giả làm Đệ Tử, Thụ Giới Cụ Túc. Sau đó, Tôn giả trở về Bắc Ấn Độ, còn ngài Mã Minh ở lại thành Hoa thị để hoằng dương Phật Pháp. Sau khi về đến nước Ca thấp di la, Hiếp Tôn Giả vâng mệnh vua Ca nhị sắc ca tham gia với 500 vị Thánh hiền biên soạn luận Đại tì Bà Sa. Sau, ngài Truyền Pháp cho Đệ Tử là Phú Na Dạ Xa rồi Thị Tịch. Vua tôi rất thương tiếc, làm lễ trà tì, thu nhặt Xá Lợi và xây tháp cúng dường. [X. Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện Q. 5.; Đại Đường Tây Vực Kí Q. 2.; Q. 3.; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q. 2.].