Hiển Mật Nhị Giáo

《顯密二教》 xiǎn mì èr jiào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Hiển giáo và Mật giáo. Cũng gọi Hiển mật, Hiển lộ Bí Mật, Hiển thị Bí Mật. Giáo pháp được hiển bày bằng ngôn ngữ văn tự, gọi là Hiển giáo, giáo pháp Bí Mật, không thể căn cứ vào ngôn ngữ, văn tự mà hiểu được, gọi là Mật giáo. Có thể dựa theo phương thức thuyết giáo, hoặc nội dung giáo nghĩa mà Phân Biệt Hiển giáo và Mật giáo.Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 84 hạ), nói: Giáo pháp của Phật có 2 thứ: Một là Bí Mật, hai là Hiển thị. Trong Hiển thị, Phật, Bích Chi Phật, A La Hán đều là ruộng phúc, vì các Ngài đã trừ sạch Phiền Não. Trong Bí Mật thì nói các Bồ Tát được vô sinh Pháp Nhẫn, Phiền Não đã dứt, đủ 6 Thần Thông Lợi Ích Chúng Sinh . Trong Tứ giáo hóa nghi, đại sư Trí Khải đã dựa vào những điều được nói trong luận Đại trí độ mà nêu ra Hiển lộ Bất Định Giáo và Bí Mật Bất Định Giáo. Đây là căn cứ vào phương thức thuyết giáo mà Phân Biệt. Còn Tống Cao Tăng Truyện quyển 3 và Tịnh Độ chỉ quy tập quyển thượng, thì cho rằng kinh, luật, luận là Hiển giáo, Đàn Tràng Tác Pháp, trì tụng mật chú, v.v... là Mật giáo.Các Tông Phái Phật giáo nói chung đều căn cứ vào ý thú của các tông như: Câu xá, Duy Thức, Tam Luận, Hoa nghiêm, Thiên thai; Tịnh Độ, v.v... mà Phân BiệtTiểu Thừa hay Đại Thừa. Nhưng Chân Ngôn Mật Tông thì không Phân Biệt theo Tiểu ThừaĐại ThừaPhân Biệt theo Hiển giáo và Mật giáo. Theo quan điểm của Mật Tông thì những kinh luận y cứ của các Tông Phái nói trên, như các luận Câu xá, Duy Thức, hoặc các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, v.v...… đều bị Mật giáo xem là những giáo pháp nông cạn, rõ ràng dễ hiểu nên gọi chung là Hiển giáo. Trái lại, giáo pháp Du Già Quán Hành, Tức Thân Thành Phật của tông Chân Ngôn là những giáo pháp sâu xa, Bí Mật thì mới gọi là Mật giáo. Ở Ấn Độ, Mật giáo lấy kinh Đại nhật làm yếu chỉ thì gọi là Chân Ngôn Thừa, còn y cứ vào kinh Kim Cương đính làm trung tâm thì gọi là Kim Cương thừa. Tại Nhật bản, phái Đông MậtThai Mật căn cứ vào nội dung giáo nghĩa mà phân loại Hiển giáo và Mật giáo:
1. Đông Mật cho rằng Nhất Thừa giáo, Tam Thừa giáo do Ứng thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni tùy theo Căn Cơ, năng lực của Chúng Sinh mà nói ra, là Hiển giáo; còn Tam Mật giáo doPháp thân của đức Đại Nhật Như Lai hiển bày nội dung chứng Ngộ Tự thân (Tự thụ Pháp Lạc) thì thuộc Mật giáo.
2. Thai Mật thì cho rằng Tam Thừa giáo là Hiển giáo, Nhất Thừa giáo là Mật giáo. Thuyết này do các ngài Viên Nhân, An Nhiên, v.v... chủ trương. Mật giáo cho rằng các kinh như Hoa nghiêm, Pháp hoa chỉ lí luận về Thế Tục Đế và Thắng Nghĩa đế có cùng một thể tính, chứ không nói về những Sự Tướng cụ thể như Ấn Tướng, v.v... nên gọi là Lí mật giáo. Còn các kinh như Đại nhật, Kim Cương đính… thì bàn về cả 2 mặt lí và sự, nên gọi là Sự Lí Câu Mật giáo. Trong Sự là Lí, thì Lí được thuyết minh cố nhiên là giống nhau, nhưng giáo pháp nói về Sự mật thì rất Thù Thắng, cho nên gọi là Sự thắng lí đồng . Nhưng người đời sau phần nhiều chủ trương kinh Pháp hoa và kinh Đại nhật đều là Viên giáo, chứ không Phân Biệt hơn kém. Hoặc có thuyết cho rằng Mật giáo nói trong kinh Pháp hoa là Tạp mật, còn Mật giáo nói trong kinh Đại nhật là Thuần mật. Ngoài ra các thuật ngữ như: Hiển Mật Kiêm Học là chỉ cho sự tu tập cả Hiển giáo và Mật giáo; cũng tức là tu học giáo pháp của một đời đức Phật; Hiển Mật Giới Tam Học là chỉ cho các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa của Hiển giáo, Chân Ngôn Mật giáo và Giới luật. [X. kinh Pháp hoa Q. 10.; Tất Địa Kinh lược sớ Q. 1.; luận Thập Trụ Tâm Q. 9., Q. 10.].