Đồ Cát Ni

《荼吉尼》 tú jí ní

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Đàkinì. Dịch ý: Không hành mẫu. Cũng gọi Noa cát ninh, Noa cát ni, Noa chỉ nễ, Đồ kì ni, Đồ chỉ ni, Đồ cát nễ, Đà kì ni, Tra chỉ ni. Nhóm 3 thiên quỉ (quỉ trời) ngồi và một quỉ nằm ngửa được bày ở bên trái Diêm Ma thiên, phía nam viện Kim Cương Bộ ngoài trên Hiện Đồ Mạn Đồ La Thai Tạng Giới Mật giáo. Về Hình Tượng: Quỉ ở giữa toàn thân mầu đỏ, tay phải cầm chân người, đang há miệng ăn, tay trái cầm cánh tay người; quỉ bên phải, tay trái cầm dao, khuỷu tay phải dựng lên, ngón trỏ xoay về bên phải, bốn ngón kia co lại cầm bát; quỉ bên trái, cánh tay trái co lại, nắm tay để trước ngực, khuỷu tay phải dựng lên cầm bát; quỉ nằm ngửa thì nằm trước mặt ba thiên quỉ, mắt nhắm, tóc dựng ngược, hai tay đặt thẳng theo thân. Chủng Tử(haô), hình Tam Muội da là cái bát (Phạm:kapàla). Cứ theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10, thì Đồ Cát Ni là họ hàng của Đại hắc thần (Thần đen kịt), một trong các quỉ Dạ Xoa, có sức Thần Thông Tự tại, biết được ngày chết của người ta trước 6 tháng, nên chuẩn bị trước để ăn trái tim của người ấy và dùng vật khác thay thế vào. Đến đúng lúc người ấy hấp hối thì vật tráo mới hư nát. Người tu pháp Đồ Cát Ni, nếu Thành Tựu, có thể được đại Thần Thông. Để trừ nhóm ác quỉ này, đức Phật Tì Lô Giá Na dùng Pháp Môn Hàng phục Tam Thế hóa làm Đại hắc thần để thu nhiếp họ, khiến họ đều quy y Phật. Pháp Đồ Cát Ni vốn là của Ngoại Đạo Ấn Độ, được phái Mật giáo tả đạo thu dụng. Về sau, giáo phái này được truyền vào Tây tạng. Trong các kinh và nghi quĩ được truyền dịch ở Trung Quốc, không thấy có pháp Đồ Cát Ni, nhưng nó lại được thịnh hành ở Nhật bản và nhiều kinh quĩ đã được ngụy tạo. [X. kinh Đại Bi không trí Kim Cương đại giáo vương nghi quĩ; phần Ngoại Kim Cương Bộ nghi quĩ trong kinh Tối Thượng Căn bản đại lạc Kim Cương Bất Không Tam Muội đại giáo vương Q. 3.; kinh Đại nhật Q. 2.; Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích Q. 7.].