Đệ Tử

《弟子》 dì zǐ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Ziwya hoặc Antevàsin; Pàli: Sissa hoặc Antevàsika. Hán âm: Thất sái, Hán dịch: Sở giáo. Người theo thầy học đạo. Tức là từ các vị Thanh Văn thời đức Phật còn tại thế cho đến các hàng tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di v.v... sau khi đức Phật Nhập Diệt đều gọi là Đệ Tử. Về ý nghĩa của danh từ Đệ Tử, theo Duy Ma Kinh Nghĩa Kí quyển 2 phần đầu của ngài Tuệ viễn, thì theo học với Phật nên gọi là Đệ, nghe lời Phật dạy mà sinh hiểu biết nên gọi là Tử. Đối với đức Phật thì Thanh Văn, Bồ Tát tuy đều là Đệ Tử, nhưng vì hình tướng và uy nghi của hàng Thanh Văn rất giống đức Phật, vả lại, thường gần gũi Ngài, nên đặc biệt được gọi là Đệ Tử. Danh từ Đệ Tử trong các Kinh Điển phần nhiều được dịch từ tiếng Phạm Ziwya, nhưng cũng có chỗ Thanh Văn, được dịch là Đệ Tử. Nhưng Đệ Tử Thanh Văn nói trong kinh A di đà thì tiếng Phạm là Sràvaka saôgha (Thanh Văn tăng). Còn trong kinh Pháp hoa thì ngài Cưu Ma La Thập dịch là Đệ Tử xứ; trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm thì hoặc là ziwya (dịch nghĩa: Sở giáo), hoặc là antevàsin (dịch nghĩa: đứng bên cạnh), hoặc làbhikwu (dịch âm: tỉ khưu), hoặc là zràvaka (dịch ý: Thanh Văn). Ngoài ra, môn nhân thường gọi là Môn đệ, Đồ đệ; Đệ Tử nối pháp sau khi thầy tổ Thị Tịch, gọi là Di đệ; Đệ Tử Thụ Giới gọi là Giới đệ, Giới tử, Giới đồ; trong cùng Sơn Môn, người lớn tuổi tu trước gọi là Pháp Huynh, người nhỏ tuổi tu sau gọi là Pháp đệ. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q. 11.; kinh Đại Bản trong Trường a hàm Q. 1.; phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp hoa Q. 1.; kinh Quá Khứ hiện tại Nhân Quả Q. 4.; luận Đại trí độ Q. 10., Q. 38.; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ Q. 3.; điều Huyền Hội pháp sư trong Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện Q.thượng].