Đại Ngã
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Parmàtman hoặc Mahàtman. Đại Ngã là cái ngã Siêu Việt do xa lìa Ngã Chấp, Ngã Kiến mà đạt đến cảnh giới Tự Tại thường nhất, là ngã trong bốn tính chất Thường Lạc Ngã Tịnh của Niết Bàn. Vì Niết Bàn mà đức Phật đã chứng được là chân thực và Thường Trụ bất biến, cũng chính là Đại Ngã, đồng nghĩa với Chân Ngã. Tư tưởng Đại Ngã của giới triết học Ấn Độ có lần đã bị thuyết Vô Ngã, Không Quán v.v... của Phật giáo phủ định, nhưng đến đời sau được thu dụng trở lại. Ngoài ra, Mật giáo cho rằng, người Thành Tựu tám thứ Tự Tại của Ngã, đối với các pháp được Tự Tại, gọi là Đại Ngã. Theo nghĩa rộng thì Đại Ngã chỉ cho chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tôn nêu trong Mạn Đồ La, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho đức Đại Nhật Như Lai hoặc Ngũ Trí Như Lai. [X. kinh Đại Niết Bàn (bản Nam) Q. 21.; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 5.].