Cửu Triệt

《九徹》 jiǔ chè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Hàm ý là chín nguyên tắc. Tức là khi sư Tăng Duệ phán thích kinh Pháp hoa chia ra làm chín khoa, gọi là Cửu Triệt. Cứ theo truyện Tăng Duệ trong Pháp Hoa Truyện Kí quyển 2 nói, thì sư Tăng DuệĐệ Tử của ngài Cưu Ma La Thập - ngài La thập thường sai sư Tăng Duệ giảng kinh Pháp hoa, sư mới chia toàn kinh làm chín khoa (Cửu Triệt):
1. Hôn thánh tương khấu triệt: phẩm tựa.
2. Thiệp giáo qui chân triệt: phẩm Phương Tiện, đức Phật nói pháp cho hàng Thượng Căn.
3. Hưng loại tiềm chương triệt: phẩm Thí Dụ, đức Phật nói pháp cho hàng trung căn.
4. Thuật cùng thông tích triệt: phẩm Tín Giải, nói về những điều mà bốn vị đại Đệ Tử ngộ giải.
5. Chương nhân tiến ngộ triệt: phẩm Hóa thành và phẩm Thụ Kí, đức Phật nói pháp cho hàng hạ căn.
6. Tán dương Hành Lí triệt: phẩm Pháp sư.
7. Bản tích vô sinh triệt: phẩm Đa bảo.
8. Cử nhân trưng quả triệt: phẩm Dũng Xuất và phẩm Thọ Lượng.
9. Xưng dương vĩnh tế triệt: từ phẩm Tùy hỉ Công Đức trở xuống là phần Lưu Thông của toàn kinh. Pháp Hoa Văn Cú Kí quyển 8 phần 4 cũng đem chín triệt phối hợp với phần Tựa, phần Chính Tông và phần Lưu Thông, tức là: - Triệt thứ nhất là phần tựa. - Bảy triệt từ thứ hai đến thứ tám là phần Chính Tông. - Triệt thứ chín là phần Lưu Thông. Hai sách nói trên đều cho Cửu Triệt do sư Tăng Duệ lập, cho nên gọi sư Tăng DuệCửu Triệt pháp sư. Nhưng Pháp Hoa Huyền Luận quyển 1 lại nói Cửu Triệt do sư Đạo Dung lập, cho nên gọi sư Đạo DungCửu Triệt pháp sư. [X. Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q. 1. (Cát Tạng) - Pháp hoa du ý - Pháp Hoa Văn Cú Q. 8. phần dưới].