Cứu Hộ Huệ Bồ Tát
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cứu hộ tuệ, Phạm: Paritràịàzaya-mati. Dịch âm: Ba lí đát la nô xá dã ma tha. Cũng gọi Cứu ý tuệ Bồ Tát, Cứu Hộ Huệ Bồ Tát, Ai mẫn tuệ Bồ Tát, Cứu hộ Bồ Tát. Là một trong chín vị Tôn được bày ở đầu phía đông của viện Trừ cái chướng trên Thai Tạng Giới Hiện Đồ Mạn Đồ La thuộc Mật giáo. Vị Bồ Tát này dùng trí tuệ của Như Lai cứu hộ Chúng Sinh, khiến cho Chúng Sinh trong chín cõi tiến vào cõi Phật. Mật Hiệu là Cứu hộ Kim Cương, chủng từ là (yaô), hình Tam Muội da là tay tình thương. Hình Tượng của ngài màu vàng nhạt, bàn tay phải ngửa lên, đặt ở trước ngực, ngón cái, ngón vô danh bấm vào nhau, có nghĩa là trừ diệt khổ đau - bàn tay trái chống vào cạnh sườn, có nghĩa là che chở, ngồi trên tòa hoa sen. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 16 chép (Đại 39, 744 hạ): Bồ Tát Cứu ý tuệ đặt tay tình thương ở trên ngực. Tay tình thương (bi thủ) tức là dùng ngón vô danh và ngón cái bấm vào nhau, còn ba ngón kia thì duỗi thẳng và xòe ra. Chú thích bên cạnh trong sách đã dẫn quyển 13 (Đại 39, 719 trung), nói: Bản Nguyện của vị Bồ Tát này là trừ hết thảy khổ, vì trừ khổ nên gọi là Cứu hộ. [X. Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích Q. 7. - Thanh Long Tự nghi quĩ Q.trung - Chư Thuyết Bất Đồng Kí Q. 5.].