Chung

《鐘、鍾》 zhōng zhōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chuông; tên một loại Pháp Khí được dùng trong các tự viện Phật Giáo để báo thì giờ, tập trung Tăng Chúng. Tại Ấn Độ, khi triệu tập Tăng Chúng, người ta thường đánh loại Kiền Chùy (Sanskrit: ghaṇṭā, ) bằng gỗ. Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 24 có ghi lại việc đức Phật dạy tôn giả a nan đánh Kiền Chùy để tập trung đại chúng: “Nhữ kim ư Lộ Địa tốc kích Kiền Chùy, sở dĩ nhiên giả ? Kim thất nguyệt thập ngũ nhật thị thọ tuế chi nhật (, các ngươi nay ở nơi đất trống mau đánh Kiền Chùy, vì cớ sao vậy ? Vì hôm nay ngày 15 tháng 7 là ngày nhận thêm tuổi).” Chuông có hai loại chính: Phạn Chung ()Hoán Chung (). (1) Phạn Chung, còn gọi là Đại Chung (, chuông lớn), Điếu Chung (), Chàng Chung (), Hồng Chung (), Kình Chung (), Bồ Lao (), Hoa Kình (), Hoa Chung (), Cự Chung (), v.v.; thông thường cao khoảng 150 cm, đường kính khoảng 60 cm; được treo trên lầu chuông, dùng để triệu tập đại chúng, hay để báo thời khắc sáng tối. Phần trên của Phạn Chung có đầu rồng, được gọi là điếu thủ (, tay câu). Phần bên dưới có hình hai tòa hoa sen tương đối, được gọi là Bát Diệp (, tám cánh). Trong Thiền Lâm, chuông này được dùng để thông báo thời gian Tọa Thiền vào đầu đêm, nên có tên là Định Chung (); hay để thông báo đại chúng vào Tăng Đường, được gọi là Nhập Đường Chung (). Về ngữ nghĩa Bồ Lao, Lý Thiện (, 630-689), học giả thời nhà Đường, có chú dẫn lời của Tiết Tông (, ?-243) nhà Ngô thời Tam Quốc rằng: “Hải trung hữu đại ngư viết Kình, hải biên hựu hữu thú danh Bồ Lao; Bồ Lao tố úy Kình, Kình ngư kích Bồ Lao, triếp dại minh; phàm chung dục linh thanh đại giả, cố tác Bồ Lao ư thượng, sở dĩ chàng chi giả vi Kình ngư (, trong biển có con cá lớn gọi là Kình, ven biển lại có con thú tên là Bồ Lao; Bồ Lao chẳng sợ cá Kình, cá Kình đánh Bồ Lao, thường tạo ra tiếng vang lớn; hễ chuông muốn có âm thanh lớn thì nên tạc hình con Bồ Lao lên trên, vì vậy vật để đánh chuông là cá Kình).” Cho nên, đùi đánh chuông thường được khắc hình con cá Kình. Theo Thăng Am Ngoại Tập () quyển 95 của Dương Thận (, 1488-1559) nhà Minh cho biết rằng tục truyền rồng sinh ra chín con, con thứ ba tên là Bồ Lao, hình như con rồng nhưng nhỏ; và nay chính là hình con rồng trên đầu chuông. (2) Hoán Chung, còn gọi là Bán Chung (, chuông bằng một nữa), Tiểu Chung (, chuông nhỏ); thông thường cao khoảng 60 đến 80 cm, dùng để thông báo bắt đầu tiến Hành Pháp hội, v.v., nên được gọi là Hành Sự Chung (). Tại Trung Quốc, từ xưa đã có chế tạo chuông bằng đồng, nhưng không rõ nguồn gốc. Trong Quảng Hoằng Minh Tập (, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 28 cho biết rằng vào năm 566 (Thiên Hòa [] thứ 5) nhà Bắc Chu, có bài Chu Võ Đế Nhị Giáo Chung Minh (); Đường Thái Tông Đại Hưng Thiện Tự Chung Minh (); Đường Đông Cung Hoàng Thái Tử Tây Minh Tự Chung Minh (西), v.v. Theo Tục Cao Tăng Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 29, Truyện Trí Hưng (), vào năm 609 (Đại Nghiệp [] thứ 5) nhà Tùy, trong khi trú tại Thiền Định Tự ()Kinh Sư, Trí Hưng đã từng giữ chức Thời Chung. Theo thông tin trên, việc tạo lập Phạn Chung từ thời Bắc Chu trở đi đã bắt đầu thịnh hành. Ngoài ra, chuông ở Hàn Sơn Tự (), Tô Châu (), nhờ bài Phong Kiều Dạ Bạc () của thi nhân Trương Kế (, ?-779) nhà Đường mà trở nên nổi tiếng. Căn cứ vào tác phẩm Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Ký () quyển 3 của Viên Nhân (, Ennin, 794-864), vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường cầu pháp, tại Ngũ Đài Sơn () có hang lầu chuông với chuông vàng, lầu báu, là nơi Bồ Tát Văn Thù thường Thị Hiện. Tại Nhật Bản, hiện còn lưu lại một số chuông được đưa từ Trung Quốc vào, như chuông ở Vũ Tá Thần Cung (, Usa Jingū) vùng Phong Tiền (, Buzen); ở Ba Thượng Cung (, Nami-no-uegū) vùng Lưu Cầu (, Ryūkyū); ở Viên Thành Tự (, Onjō-ji) vùng Cận Giang (, Ōmi), v.v.; chuông hiện tồn tối cổ được đúc vào năm 698 (Văn Võ Thiên Hoàng [] thứ 2), và bảo lưu tại Diệu Tâm Tự (, Myōshin-ji), Kyoto. Chuông đối với việc tu hành có Công Đức rất lớn và đóng vài trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống tâm linh của Tín Đồ Phật Giáo. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 8, Chương Pháp Khí () thứ 9, phần Chuông, có giải thích rằng: “Đại Chung, Tùng Lâm hiệu lịnh tư thỉ dã, hiểu kích tắc phá trường dạ cảnh thùy miên, mộ kích tắc giác hôn cù sơ minh muội (, chuông lớn là vật khởi đầu hiệu lịnh trong Tùng Lâm; đánh buổi sáng thì phá tan sự đêm dài, đánh thức ngủ say; đánh buổi tối thì làm tỉnh thức con đường mê muội, tối tăm).” Trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) lại dạy rằng: “Hồng Chung chấn hưởng giác quần mê, thanh biến Thập Phương vô lượng độ, Hàm Thức quần sanh phổ văn tri, bạt trừ Chúng Sanh trường dạ khổ, Lục Thức thường hôn chung dạ khổ, Vô Minh bị phú thức Mê Tình, tĩnh dạ văn chung Khai Giác ngộ, di thần tịnh sát đắc Thần Thông (, Hồng Chung vang vọng tỉnh quần mê, tiếng khắp mười phương vô lượng cõi, Nhận Thức quần sanh khắp nghe biết, đoạn trừ Chúng Sanh đêm dài khổ, Sáu Thức thường mờ suốt đêm khổ, Vô Minh che lấp cõi Mê Tình, đêm lắng nghe chuông bày giác ngộ, hân hoan trong sạch chứng Thần Thông).” Lại nữa, trong Thích Môn Chánh Thống (, Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 4 có dẫn lời dạy của Kinh Tăng Nhất A Hàm rằng: “Nhược đả chung thời, Nhất Thiết Ác Đạo chư khổ, tinh đắc đình chỉ (, nếu khi đánh chuông, hết thảy các nỗi khổ của đường ác, đều được dừng lại).” Trong Phú Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2058) quyển 5 có ghi lại câu chuyện Quốc Vương nước Nguyệt Chi ()Chiên Đàn Kế Nặc Tra () cùng giao chiến với nước An Tức (), sát hại 9 ức người. Do vì nhân ác đó, nhà vua sau khi chết bị đọa làm thân con cá có ngàn cái đầu, vòng kiếm quay quanh thân chém đứt từng đầu, nhưng rồi lại sanh ra đầu khác; đau đớn vô cùng, không thể nào kể xiết. Tuy nhiên, mỗi khi nghe tiếng chuông thì vòng kiếm kia dừng lại; cho nên nhà vua cầu xin vị La Hán thường xuyên đánh chuông. Vị này thương xót, đánh chuông liên tục trong vòng 7 ngày thì không còn chịu khổ nữa. Trong Tục Cao Tăng Truyện (, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 29, phần Đường Kinh Sư Đại Trang Nghiêm Tự Thích Trí Hưng Truyện () có đề cập đến câu chuyện người anh của sư trên đường cùng với nhà vua đến Bành Thành () thì đột nhiên qua đời giữa đường. Người này về báo mộng cho vợ biết rằng mình đã chết, nay đọa xuống Địa Ngục, chịu khổ báo vô cùng, nên bảo rằng: “Lại dĩ kim nguyệt sơ nhật mông Thiền Định Tự tăng Trí Hưng minh chung phát thanh hưởng chấn Địa Ngục, đồng thọ khổ giả nhất Thời Giải Thoát (, vào ngày mồng một tháng này, nhờ tăng sĩ Trí Hưng ở Thiền Định Tự đánh chuông phát ra tiếng vang chấn động Địa Ngục, khiến cho người chịu khổ Nhất Thời được giải thoát).” Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 1 ghi lại câu chuyện vua Ca Nị Sắc Ca (Sanskrit: Kaniṣka, Pāli: Kanisika ) của vương quốc Kiện Đà La (s, Pāli: Gandhāra ) nhận lời thỉnh cầu của con rồng ác, kiến lập chùa chiền, đánh chuông và nhờ đó mà tâm sân hận của rồng được tiêu tan. Vì tầm quan trọng của tiếng chuông như vậy, trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1116) trích dẫn lời dạy của Tạp Thí Dụ Kinh () về thái độ của người nghe chuông: “Sở tại văn chung thanh, ngọa giả tất tu khởi, hiệp chưởng phát Thiện Tâm, hiền thánh giai hoan hỷ (, nơi mình nghe tiếng chuông, người nằm phải nên dậy, chấp tay phát Thiện Tâm, hiền thánh đều hoan hỷ).” Cũng điển tịch này có dẫn lời của Cổ Đức rằng: “Văn chung ngọa bất khởi, Hộ Pháp Thiện Thần sân, Hiện Tiền giảm phước huệ, hậu thế đọa xà thân (, nghe chuông nằm không dậy, Hộ Pháp Thiện Thần sân, Hiện Tiền giảm phước huệ, đời sau đọa rắn thân).” Trong Thiền Môn có các bài kệ nguyện chuông rất phổ biến như: “Nguyện thử chung thanh siêu Pháp Giới, Thiết Vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng Viên Thông, Nhất Thiết Chúng Sanh thành chánh giác (, nguyện tiếng chuông này siêu Pháp Giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, nghiệp trần trong sạch chứng Viên Thông, tất cả Chúng Sanh thành chánh giác).”; hay “Văn chung thanh Phiền Não khinh, trí huệ trưởng Bồ Đề sinh, ly Địa Ngục xuất hỏa khanh, nguyện Thành Phật độ Chúng Sinh (, nghe tiếng chuông Phiền Não tan, trí huệ lớn Bồ Đề sanh, lìa Địa Ngục ra hỏa than, nguyện Thành Phật độ Chúng Sanh).” Theo nghiên cứu cho thấy rằng trong bộ Toàn Đường Thi () cũng như Toàn Đường Thi Bổ Biên (), có gần 1100 câu thơ về tiếng chuông, về Phạn Chung có 300 câu, cho ta thấy tầm quan trọng của tiếng chuông chùa như thế nào. Xin giới thiệu một số tác phẩm liên quan đến tiếng chuông như sau. Trong bài Trường Thọ Tự Xán Công Viện Tân Trứu Tỉnh () của Lý Kì (, 690-751) có đoạn: “Tăng Phòng lai trú cửu, lộ tỉnh mỗi đồng quan, bạch thạch bảo tân trứu, thương đài y cựu lan, không bình uyển chuyển hạ, trường cảnh lộc lô bàn, cảnh giới nhân tâm tịnh, tuyền nguyên kiến để hàn, chung minh thời quán đảnh, đối thử nhật nhàn an (, Tăng Phòng đến đây ở, giếng nước ngày mỗi xem, đá trắng che mặt giếng, rêu xanh vẫn lan cùng, gàu nước buông thong thả, dây dài theo trục xoay, cảnh giới theo tâm lắng, suối nguồn tận đáy trong, chuông ngân dài quán đảnh, đối diện ngày an nhàn).” Trương Kế có làm bài Phong Kiều Dạ Bạc (): “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên, Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, dạ Bán Chung thanh đáo khách thuyền (滿, trăng tà chiếc quạ kêu sương, lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ, thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông Chùa Hàn San).” Như trong Vãn Đường Chung Thanh () của Phó Đạo Bân () có nêu một đoạn trong bài thơ Du Long Môn Phụng Tiên Tự () của Đỗ Phủ (, 712-770): “Dĩ tùng Chiêu Đề du, cánh túc Chiêu Đề cảnh, âm hác sanh hư lại, nguyệt lâm tán thanh ảnh, thiên khuyết tượng vĩ bức, vân ngọa y thường lãnh, dục giác văn thần chung, linh nhân phát thâm tỉnh (宿, từ độ thăm Chiêu Đề, lại luyến cảnh Chiêu Đề, hang tối vang tiếng vọng, rừng trăng bóng tỏ mờ, cổng trời bóng voi hiện, mây nằm áo lạnh băng, muốn dậy nghe chuông sớm, khiến người tỉnh thức sâu).” Trong bài Kinh Thiếu Lâm Tinh Xá Ký Đô Ấp Thân Hữu () của Vi Ứng Vật (, 737-792) có câu: “Xuất hi thính vạn lại, nhập lâm trạc u tuyền, minh chung sanh Đạo Tâm, mộ khánh Không Vân yên (, ra hang vạn dây vướng, vào rừng rửa suối thiêng, chuông ngân sanh Đạo Tâm, khánh chiều mây khói quyện).” Lô Luân (, 739-799) có làm bài Thù Quý Đoan Công Dã Tự Bệnh Cư Kiến Ký (): “Dã tự chung hôn sơn chánh âm, loạn đằng cao trúc thủy thanh thâm, điền phu tựu hướng hoàn y thảo, dã trĩ kinh phi bất quá lâm, trai mộc tạm tư đồng tĩnh thất, thanh luy dĩ giác trợ Thiền tâm, tịch mịch nhật trường thùy vấn tật, liệu quân duy thủ cổ phương tầm (, chùa hoang chuông chiều núi tỏa râm, dây leo trúc bám tiếng nước trầm, nông phu cất bước theo lối cỏ, gà đồng kinh hoảng bay qua rừng, chay tịnh ưu tư cùng tịnh thất, gầy xanh mới rõ ấy Thiền tâm, vắng lặng tháng ngày ai hỏi bệnh, khuyên người thôi chớ nhọc công tìm).” Hay trong bài Du Vân Tế Tự () của Chương Hiếu Tiêu () có câu: “Vân lãnh phù danh khứ, chung chàng Đại Mộng tỉnh, mang mang sơn hạ sự, mãn nhãn tống lưu bình (滿, mây núi phù danh bỏ, chuông ngân Đại Mộng tỉnh, mênh mang chuyện đời mặc, trước mắt bèo dạt trôi).” Trong bài Tặng Thiên Khanh Tự Thần Lượng Thượng Nhân () của Triệu Hỗ (, 806-853) cũng có đề cập đến tiếng chuông: “Ngũ khán xuân tận thử giang phần, hoa tự phiêu linh nhật tự huân, Không Hữu từ bi tùy vật niệm, dĩ vô tung tích tại nhân quần, nghênh thu nhật sắc diêm tiền kiến, nhập dạ chung thanh trúc ngoại văn, tiếu chỉ Bạch Liên tâm tự đắc, Thế Gian Phiền Não thị Phù Vân (, năm bận đón xuân nơi bến sông, ngày nắng chói chan hoa phiêu bồng, Không Tâm từ bi theo vật nhớ, đã chẳng dấu tích chốn nhân quần, đón thu ngày mới trước thềm thấy, đêm về chuông vọng trúc ngoài vang, cười chỉ trắng sen lòng tự đắc, Thế Gian Phiền Não ấy Phù Vân).” Hay như trong bài Quá Hương Tích Tự () của Vương Duy (, ?-761) cũng vậy: “Bất tri Hương Tích Tự, sổ lí nhập vân phong, cổ mộc vô nhân kính, thâm sơn hà xứ chung, tuyền thanh yến nguy thạch, nhật sắc lãnh thanh tùng, bạc mộ không đàm khúc, An Thiền chế Độc Long (, nào hay Hương Tích Tự, mấy dặm trong mây rừng, cây xưa không người bước, núi sâu chuông chốn nào, tiếng suối ngâm lòng đá, ngày lên lạnh tùng xanh, chiều buông trên hồ vắng, tọa Thiền chế Độc Long).” Tại Tây Hồ, Hàng Châu có 2 ngôi Danh LamTịnh Từ Tự ()Linh Ẩn Tự (). Ở Tịnh Từ Tự có một đại Hồng Chung rất nổi tiếng, nơi nhà bia an trí chuông có bút tích của vua Khang Hy với dòng chữ: “Nam Bình Vãn Chung (, Chuông Chiều Nam Bình).” Thi sĩ Trương Đại (, ?-?) nhà Đường có làm bài thơ để diễn tả sự xuất thần nhập hóa của tiếng chuông chùa này như sau: “Dạ khí ổng Nam Bình, khinh phong bạc như chỉ, chung thanh xuất thượng phương, dạ độ không giang thủy (, màn đêm trùm khắp Nam Bình, gió nhè nhẹ thổi như hình giấy manh, tiếng chuông vút tận trời xanh, buông vào đêm vắng sông thanh nghìn trùng).” Sau này dân gian vẫn có câu: “Ngọc Bình thanh chướng mộ yên phi, cam điện chung thanh lạc thúy vi (殿, Ngọc Bình mây khói chiều lặng bay, điện báu chuông chùa rụng sương chầy).” Về phía Việt Nam, cũng có khá nhiều bài thơ nói về tiếng chuông, như trong bài Cảnh Chùa Đọi của Nguyễn Khuyến (, 1835-1909) có đoạn: “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá, sư cụ nằm chung với khói mây, chuông trưa vẳng tiếng người không biết, trâu thả sườn non ngủ gốc cây.” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi () của Hòa Thượng Thạch Liêm (, 1633-1702) cũng có đoạn diễn tả như sau: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm Cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong, trúc li thảo kính phù lam yểm, thạch hác hà lâu đảo ảnh không (滿, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông, lối cỏ bờ trúc mây khói phủ, hang đá lầu chiều bóng nghiêng lồng).” Tục ngữ dân gian Việt Nam thường có câu: “Đánh tan tục lụy hồi chuông sớm, gõ nát trần tâm tiếng mõ trưa”; hay “Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Sương, mịt mù khói toả ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.” Hòa Thượng Giác Tiên (1880-1936), Tổ khai sáng Chùa Trúc Lâm (), Huế, có câu thơ: “Tuần diêm thanh khánh sao minh nguyệt, nhiễu thọ sơ chung khấu bích thiên (, tiếng khánh quanh nhà lay trăng sáng, cùng cây chuông sớm gõ trời xanh).” Cố Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997), nguyên trú trì và Khai Sơn Hồng Ân Ni Tự () tại Huế, cũng có lưu lại bài thơ ca ngợi về nét Thiền Vị của chùa Trúc Lâm như sau: “Bước đến Trúc Lâm luống chạnh lòng, chuông chùa tiếng dội khắp rừng thông, trông lên bảo tháp mây quang đãng, ngó xuống ao sen cá vẫy vùng, cảnh tịnh soi tâm tâm cũng tịnh, nước trong trăng chiếu bóng thường trong, cảnh này nếu được đem thêu vẽ, tỏa rạng ngàn năm nét Đại Hùng.”