Bồ Đề Đạt Ma

《菩提達磨》 pú tí dá mó

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Bodhidharma, ?-495, 346-495, ?-528, ?-536: xưa kia người ta viết chữ Ma là , nhưng về mặt truyền thống thì viết là . Các học giả Cận Đại thì viết là , khi xem Đại Sư như là vị Tổ Sư; còn viết là khi xem như là nhân vật lịch sử. Theo hệ thống Truyền Đăng của Thiền Tông, Đại Sư là vị Tổ thứ 28 của Tây Thiên (Ấn Độ), và là sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Những truyền ký về Đạt Ma thì xưa nay đều y cứ vào bản Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (, năm 1004) cũng như Bồ Đề Đạt Ma Chương (); nhưng theo những nghiên cứu gần đây, người ta có khuynh hướng cấu thành truyền ký về ông dựa trên những tư liệu xưa hơn hai tư liệu vừa nêu trên. Tư liệu về Đạt Ma Truyện thì có nhiều loại như Lạc Dương Già Lam(, năm 547), Đàm Lâm Nhị Chủng Nhập (, khoảng năm 600), Tục Cao Tăng Truyện (, năm 645), Truyền Pháp Bảo Ký (, khoảng năm 712), Lăng Già Sư Tư(, khoảng năm 713, 716), Lịch Đại Pháp Bảo(, khoảng năm 774), Bảo Lâm Truyện (, năm 801), Tổ Đường Tập (, năm 952), v.v. Thông qua Bảo Lâm Truyện từ đó các ký lục của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Truyền Pháp Chánh Tông Ký (, năm 1061), v.v., được hình thành. Lại nữa, chúng ta cần phải lưu ý đến những văn Bản Như Nội Chứng Phật Pháp Tương Thừa Huyết Mạch Phổ (, năm 819) của Tối Trừng (, Saichō), Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận (, năm 732), Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa () của Thần Hội (), rồi Thiền Môn Sư Tư Tương Thừa Đồ (), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (), Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao () của Tông Mật (). Từ đó, xét về Tiểu Sử của Đạt Ma, ta thấy rằng Đại Sư sanh ra ở nước Ba Tư () hay Nam Thiên Trúc (). Theo như tài liệu mới thành lập sau này cho thấy rằng ông là người con thứ 3 của Quốc Vương nước này. Ông kế thừa dòng pháp của Bát Nhã Đa La (Sanskrit: Prajñātara, ), rồi sau đó sang Trung Quốc. Bảo Lâm Truyện thì cho rằng ông đến Quảng Châu () vào ngày 21 tháng 9 năm thứ 8 (527) niên hiệu Phổ Thông () nhà Lương. Bản ghi rõ ngày tháng thì có Bảo Lâm Truyện này, nhưng đời sau lại có khá nhiều dị thuyết xuất hiện. Sự việc vua Lương Võ Đế (, tại vị 502-549) xuất hiện trong câu chuyện Đạt Ma, lần đầu tiên được tìm thấy trong Nam Tông Định Thị Phi Luận và Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa; còn các tư liệu trước đó thì không thấy. Câu trả lời “vô Công Đức (, không có Công Đức)” của Đạt Ma đối với vua Lương Võ Đế, mãi cho đến bản Tổ Đường Tập mới thấy xuất hiện. Về sau, Đạt Ma đến tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (), ngồi xoay mặt vào vách tường suốt 9 năm trường. Còn câu chuyện Huệ Khả () tự mình chặt tay giữa lúc tuyết rơi rồi dâng lên cho Đạt Ma để cầu pháp, lần đâu tiên được ghi lại trong Lăng Già Sư Tư Ký; nhưng Tục Cao Tăng Truyện thì lại cho rằng Huệ Khả gặp bọn cướp giữa đường và bị chặt tay. Môn nhân của Đạt Ma có 4 nhân vật nổi tiếng là Đạo Dục (), Huệ Khả (), Ni Tổng Trì ()Đạo Phó (). Đại Sư có trao truyền cho Huệ Khả 4 quyển Kinh Lăng Già, y Ca Sa, và bài kệ phú pháp. Bài này được ghi lại trong Bảo Lâm Truyện. Bản Lạc Dương Già Lam Ký có ghi rằng lúc khoảng 150 tuổi, Đạt Ma Tán Thán cảnh sắc hoa mỹ của chốn Già Lam Vĩnh Ninh Tự (), rồi xướng Danh Hiệu Nam Mô, chấp tay mà Thị Tịch. Còn việc Đạt Ma bị giết chết bằng thuốc độc có ghi lại trong Truyền Pháp Bảo Ký. Trong Lịch Đại Pháp Bảo Ký có đề cập rằng Bồ Đề Lưu Chi (Sanskrit: Bodhiruci, ) và Quang Thống Luật Sư (, tức Huệ Quang []) đã trãi qua 6 lần bỏ thuốc độc hại Đạt Ma. Về năm Ngài Thị Tịch, Bảo Lâm Truyện có ghi là vào ngày mồng 5 tháng 12 năm Bính Thìn (536), đời vua Hiếu Minh Đế (, tại vị 515-528) nhà Hậu Ngụy. Trong khi đó, bản bia minh của Huệ Khả thì ghi ngày mồng 5 tháng 12 năm thứ 2 (536) niên hiệu Đại Đồng (). Bản Tổ Đường Tập thì ghi là năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa (); và Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thì ghi là ngày mồng 5 tháng 10 cùng năm trên; hưởng thọ 150 tuổi. Ngài được an táng tại Hùng Nhĩ Sơn (), nhưng theo vị sứ nhà Đông Ngụy là Tống Vân (), ông gặp Đạt Ma ở Thông Lãnh () đang quảy một chiếc hài đi về hướng Tây; nên khi trở về nước, ông cho mở quan tài ra để xem hư thực, mới phát hiện bên trong quan tài chỉ còn lại một chiếc hài mà thôi. Tương truyền vua Võ Đế soạn bài bia minh tháp. Vua Đại Tông ban cho Đạt Ma Thụy HiệuViên Giác Đại Sư (); trong bản văn tế của Chiêu Minh Thái Tử () thì gọi là Thánh Trụ Đại Sư (). Những soạn thuật của Đại Sư được lưu truyền cho đến nay có Nhị Chủng Nhập (), Tâm Kinh Tụng (), Phá Tướng Luận (), An Tâm Pháp Môn (), Ngộ Tánh Luận (), Huyết Mạch Luận (), được thâu tập thành bản gọi là Thiếu Thất Lục Môn (). Còn trong Thiền Môn Nhiếp Yếu () của Triều Tiên có thâu lục Huyết Mạch Luận, Quán Tâm Luận (), Tứ Hành Luận (). Sau này trong các văn bản được khai quật ở động Đôn Hoàng () còn có Nhị Nhập Tứ Hành Luận (), Tạp Lục (), Tuyệt Quán Luận (), Vô Tâm Luận (), Chứng Tâm Luận (), Đạt Ma Thiền Sư Quán Môn (), Đạt Ma Thiền Sư Luận (), v.v. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phần nhiều đó là những trước tác của chư Tổ Sư khác nhưng lại lấy tên Đạt Ma; và người ta cũng công nhận rằng trước tác của Đạt Ma chỉ là Nhị Chủng Nhập mà thôi. Nếu căn cứ vào bản này, ta thấy rằng tư tưởng của Đạt Ma là Tứ Như Thị (, bốn điều như vậy) và Nhị Nhập Tứ Hạnh (). Tứ Như ThịNhư Thị An Tâm (), Như Thị Phát Hạnh (), Như Thị Thuận Vật ()Như Thị Phương Tiện (便). Nhị Nhập là Lý Nhập () và Hạnh Nhập (). Còn Tứ Hạnh là 4 yếu tố được hình thành từ Hạnh Nhập. Tâm yếu làm cơ sở cho Thiền pháp của Đạt Ma được xem như là y cứ vào 4 quyển Kinh Lăng Già; nhưng đó không phải là văn bản giải thích về mặt học vấn của kinh này, mà nhằm nhấn mạnh việc cần phải lấy trọn tinh Thần Kinh. Theo Tục Cao Tăng Truyện, giới Phật Giáo đương thời rất chú trọng đến nghiên cứu, giảng diễn kinh luận; trong khi đó, Đạt Ma thì lại cổ xúy Thiền mang Tính Thật tiễn của cái gọi là “không vô sở đắc (, không có cái gì đạt được)”; cho nên ông bị học giả lúc bầy giờ phê phán mãnh liệt. Từ đó, các thuật ngữ như giáo ngoại biệt truyền (), Bất Lập Văn Tự (), dĩ tâm truyền tâm (), kiến tánh Thành Phật (), v.v., được thành lập. Thời đại thay đổi cho đến thời Lục Tổ Huệ Năng () trở về sau, những thuật ngữ này trở nên rất thịnh hành, thông dụng; vậy ta có thể khẳng định rằng manh nha của chúng vốn phát xuất từ thời Đạt Ma.