Bảo Hải

《寶海》 bǎo hǎi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa. (1) Biển trân bảo, biển báu, tỷ dụ Công Đức Vô Lượng vô biên, hình dung đức Phật Di Đà Thệ Nguyện cứu độ Chúng Sanh, không từ bỏ, không Phân Biệt, không chán ghét, tất cả đều được dẫn dắt, nhiếp thọ, giống như biển lớn không từ chối dòng nước nhỏ vậy. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ (, Taishō Vol. 26, No. 1524) có câu: “Năng linh tốc mãn túc, Công Đức như Bảo Hải (滿, khiến cho mau đầy đủ, Công Đức như biển báu).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 48, Phẩm Như Lai Thập Thân Tướng Hải () thứ 34, cũng có đoạn: “Ma Ni Bảo Hải dĩ vi Trang Nghiêm, phóng đại Quang Minh biến Nhất Thiết sát, ư trung phổ hiện chư Bồ Tát chúng (, biển báu Ma Ni lấy làm Trang Nghiêm, phong ánh sáng lớn biến khắp tất cả nước, trong đó hiện khắp các chúng Bồ Tát).” (2) Từ gọi tắt của Phạm Chí Bảo Hải, được đề cập trong Bi Hoa Kinh (, Taishō Vol. 3, No. 157) quyển 2. Trong thời Quá Khứ, đức Phật từng là Phạm Chí Bảo Hải, vốn là đại thần của Chuyển Luân Thánh Vương Vô Tránh Niệm (), đã ở trước Chư Thiên và đại chúng, nơi đức Phật Bảo Tạng (), Thành Tựu tâm Đại Bi, lập 500 Thệ Nguyện để cứu độ Chúng Sanh. Trong bản văn Nhiếp Sơn Thê Hà Tự Bi () có câu: “Tích Bảo Hải Phạm Chí, thùy đổ Hoa Đài (, xưa Phạm Chí Bảo Hải, ngủ thấy đài hoa).”