Bảo Chử

《寶杵》 bǎo chǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chày báu, tên gọi khác của Kim Cang Chử (Sanskrit: varja, ), Hàng Ma Chử (); âm dịch là Phược Nhật Ra (), Phạt Chiết Ra (), Bạt Chiết Ra (), Phạt Xà Ra (). Loại Pháp Khí này nguyên xưa kia là vũ khí của cổ đại Ấn Độ, do vì nó cứng rắn, có thể đột phá các thứ vật chất khác, nên gọi là Kim Cang Chữ. Trong Mật Giáo, Kim Cang Chử tượng trưng cho Bồ Đề Tâm có thể phá tan Phiền Não, được dùng như là Đạo Cụ hay vật dụng đặc biệt để tu pháp. Các đấng chủ tôn trong Hải Hội Mạn Trà La () đều có cầm cây Bảo Chử này. Hành Giả của Chơn Ngôn Tông cũng thường mang theo Đạo Cụ này bên mình. Nó còn tượng trưng cho trí tuệ đại dụng của Như Lai Kim Cang (), có thể phá trừ nội ma của Ngu Si, vọng tưởng cũng như Ma Chướng của Ngoại Đạo. Ban đầu, Kim Cang Chữ có mũi nhọn, rất bén; về sau khi nó được dùng làm Pháp Khí thì hình thức có thay đổi khá nhiều. Có rất nhiều loại Kim Cang Chử với các chất liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt, đá, Thủy Tinh, gỗ đàn, xương người, v.v. Chiều dài của Kim Cang Chữ cũng khác nhau như loại dài 8 ngón tay, 10 ngón, 12 ngón, 16 ngón, 20 ngón, v.v. Với tư cách là một loại Pháp Khí của Phật Giáo, Kim Cang Chử có nhiều hình dáng khác nhau: Độc Cổ (, một đầu), Nhị Cổ (, hai đầu), Tam Cổ (, ba đầu), Tứ Cổ (, bốn đầu), Ngũ Cổ (, năm đầu), Cửu Cổ (, chín đầu), Tháp Chử (, chày hình tháp), Bảo Chữ (), v.v. Trong số đó, loại Độc Cổ, Tam Cổ và Ngũ Cổ là thường gặp nhất; tượng trưng cho Pháp Giới độc nhất, Tam Mật Tam Thân ()Ngũ Trí Ngũ Phật (). Độc Cổ, Tam Cổ, Ngũ Cổ, Bảo Chử và Tháp Chử được gọi là Ngũ Chủng Chử (, năm loại chày). Trong đó, Độc Cổ là loại có hình thức tối cổ, mũi nhọn dài, là vật cầm tay của Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ (). Trong đó, loại Độc Cổ Chử có hình thức cổ nhất, là vật thường cầm trên tay của Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ (). Ngoài ra, Kim Cang Thủ () trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm (), một trong 108 bàn tay của Kim Cang Vương Bồ Tát () đều cầm loại Độc Cổ này. Trong 5 loại này, Độc Cổ Chử tương ứng với Liên Hoa Bộ (), đặt ở phương Tây của Đại Đàn. Tam Cổ Chử tương ứng với Yết Ma Bộ (), đặt ở phương Bắc của Đại Đàn. Về cách dùng của Kim Cang Chử, khi cầu Thành Tựu sự vật, tu pháp của Kim Cang Bộ thì dùng loại Ngũ Cổ Chữ; khi gia trì thì dùng Tam Cổ Chử; khi Hành Đạo Niệm Tụng, tu pháp của Phật Bộ, Liên Hoa Bộ thì dùng Độc Cổ Chử; khi tu pháp Đại Uy Đức Minh Vương () thì dùng loại Cửu Cổ Chử. Ngũ Cổ Chử còn gọi là Ngũ Trí Kim Cang Chử (), Ngũ Phong Kim Cang Chử (), Ngũ Phong Quang Minh (), Ngũ Cổ Kim Cang (); 5 thân hay 5 đỉnh nhọn của loại này tượng trưng cho Ngũ Trí Ngũ Phật (). Hình Tượng của Bồ Tát Vi Đà (Sanskrit: Skanda, Pāli: Khanda ) thường có cầm trên tay cây Kim Cang Chử hay Bảo Chử để hàng phục Ma Quân, dẹp yên Tà Ma, bảo vệ chánh pháp. Cho nên, trong Thiền Môn vẫn thường tụng bài xưng tán Bồ Tát Vi Đà rằng: “Vi Đà Thiên Tướng, Bồ Tát Hóa Thân, ủng hộ Phật Pháp thệ hoằng thâm, Bảo Chử trấn Ma Quân, Công Đức nan luân, Kỳ Đảo phó quần tâm (, Vi Đà Thiên Tướng, Bồ Tát Hóa Thân, ủng hộ Phật Pháp Thệ Nguyện thâm, Chày Báu nhiếp Ma Quân, Công Đức khó lường, cầu nguyện khắp nhân tâm).” Trong Trùng Biên Chư Tôn Truyện (, CBETA No. 1658) có câu: “Đế Thích Kim Cang Bảo Chữ, năng diệt A Tu La (, Chày Báu Kim Cang của Đế Thích có Thể Diệt trừ A Tu La).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (, CBETA No. 1456) quyển 34 của Hám Sơn Đức Thanh (, 1546-1623) có bài tán về Tứ Tý Quan Âm Đại Sĩ () rằng: “Thông thân thủ nhãn, hà chỉ hữu tứ, ư vô tận trung, liêu nhĩ Như Thị, Bảo Chữ Không Ma, chơn kinh vô tự, tổng thị Thần Thông, bất tư nghì sự (, khắp mình tay mắt, sao chỉ có bốn, trong vô tận ấy, vẫn cứ như vậy, Chày Báu dẹp ma, chơn kinh không chữ, thảy là Thần Thông, chuyện chẳng nghĩ bàn).”