Ưu Ba Ly
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: Upāli: còn gọi là Ưu Bà Ly (優婆離) Ô Ba Ly (鄔波離), Ưu Ba Lợi (憂波利); ý dịch là cận chấp (近執), cận thủ (近取); là một trong 10 vị đại Đệ Tử của đức Phật; xuất thân xứ Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu 迦毘羅衛) của Ấn Độ, thuộc dòng dõi giai cấp Thủ Đà La (Sanskrit: śūdra, Pāli: sudda 首陀羅), vốn là người thợ hớt tóc trong cung đình. Sau khi thành đạo được 6 năm, nhóm 7 người gồm Bạt Đề (Sanskrit: Bhadrika, Pāli: Bhaddiya 跋提), A Na Luật (阿那律, tức A Nậu Lâu Đà [s: Aniruddha, Pāli: Anuruddha 阿冕樓馱]), A Nan (s, Pāli: Ānanda 阿難), v.v., phát tâm Xuất Gia; Ưu Ba Ly cũng theo nhóm này xin Xuất Gia. Chính tôn giả đã giúp đức Phật mở rộng cánh cửa nhiếp hóa Bình Đẳng, không Phân Biệt giàu nghèo, sang hèn, giai cấp, v.v. Tôn giả là người tinh thông về giới luật, tu trì nghiêm cẩn, được xem như là “Trì Luật Đệ Nhất (持律第一, vâng giữ giới luật số một).” Cho nên, trong cuộc Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên, tôn giả đã tụng Luật Bộ. Về Công Đức lúc sinh tiền, Nhân Duyên Xuất Gia của tôn giả, có ký lục trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 53~55. Về phía Mật Giáo, tôn giả là một trong các vị Thanh Văn trong Thích Ca Viện thuộc Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅), ở bên trái đức Phật Thích Ca. Về Hình Tượng, Hiện Thân Tỳ Kheo, ngồi kiết già trên lá sen. Ngoài ra, Ưu Ba Ly hay Ưu Bà Ly (s, Pāli: Upāli 優婆離), còn là tên của vị tăng người Thái Lan sống vào khoảng thế kỷ 18, vâng mệnh đức vua Ba Long Khoa Tư (波隆科斯, Borom Kos) của vương triều Đại Thành (大城) tổ chức tăng đoàn, rồi sang Tích Lan truyền trao Giới Pháp theo phương thức Xiêm La. Vào năm 1753, theo nghi thức của tăng đoàn Thái Lan, sư truyền trao Tỳ Kheo giới cho Tát La Nan Ca La (薩羅難迦羅) và 5 vị Sa Di Tích Lan, bắt đầu khai sáng Phái Tích Lan Xiêm La (錫蘭暹羅派, Syāma-vaṃsa), và sau đó qua đời tại xứ này.