Tỳ Đàm Tông

《毘曇宗》 pí tán zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Bidon-shū: tên gọi một trong 13 Tông Phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, dựa trên A Tỳ Đạt Ma (Sanskrit: Abhidharma, , Đối Tỷ Pháp) và y cứ vào Luận Tạng mà thuyết giáo, còn gọi là Tát Bà Đa Tông (, tức Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ), hay Số Luận (Sanskrit: Sāṅkhya, Pāli: Saṅkhyā ), học phái chuyên nghiên cứu thắng pháp trong bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận () và pháp cứu trong Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận (), v.v., của Hữu Bộ. Tông Phái này đã từng hưng thạnh nhờ Tăng Già Đề Bà (), Đạo An () của thời Tiền Tần và Huệ Viễn () của thời Đông Tấn. Các giảng luận và chú thích của một số nhân vật như Huệ Thông () thời Lưu Tống, Đạo Thừa () nhà Lương, Huệ Bật () nhà Trần, Huệ Tung () nhà Bắc Ngụy, Chí Niệm () nhà Tùy, và Đạo Cơ () nhà Đường, đã được triển khai mạnh mẽ. Đến khi mấy bộ Tân Dịch của Huyền Trang (, 602-664) nhà Đường như Đại Tỳ Bà Sa Luận (), Phát Trí Luận (), Câu Xá Luận () xuất hiện, thì Tông Phái này trở nên diệt vong một cách nhanh chóng. Ở Trung Quốc thì tông này hoằng giáo chủ yếu tại vùng Hoa Bắc, nhưng đến thời nhà Đường thì hấp thu tinh thần của Câu Xá Tông do Huyền Trang lập nên. Ở Nhật Bản, vào thời kỳ Phật Giáo Nại Lương thì Câu Xá Tông cũng có khi được gọi là Tỳ Đàm Tông.