Từ Vân
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: mây từ; tỷ dụ cho tâm từ bi rộng lớn của chư Phật, giống như đám mây lớn có thể che trùm Chúng Sanh dưới cõi trần. Như trong Kê Chích Tập (雞跖集) của Vương Tử Thiều (王子韶, ?-?) nhà Tống giải thích rằng: “Như Lai Từ Tâm, như bỉ đại vân, ấm chú Thế Giới (如來慈心、如彼大雲、蔭注世界, tâm từ của Như Lai, giống như đám mây lớn kia, che mát Thế Giới).” Hay trong bài Đại Pháp Tụng (大法頌) của vua Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Từ Vân thổ trạch, Pháp Vũ thùy lương (慈雲吐澤、法雨垂涼, mây từ ban ân huệ, mưa pháp rưới mát tươi).” Trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 4 lại có câu: “Chấn Pháp Lôi kích Pháp Cổ, bố Từ Vân hề sái cam lộ (震法雷擊法鼓、布慈雲兮灑甘露, chấn sấm pháp đánh trống pháp, phủ mây từ chừ rưới cam lộ).” (2) Chỉ Từ Vân (964-1032), vị tăng nhà Tống; tên là Tuân Thức (遵式), tự Tri Bạch (知白); xuất thân vùng Ninh Hải (寧海), Triết Giang (浙江). Chính vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) đã ban cho ông hiệu Từ Vân. Tương truyền ông đã từng đốt một ngón tay trước tượng Bồ Tát Phổ Hiền ở Quốc Thanh Tự (國清寺), thề nguyện truyền bá giáo học Thiên Thai. Ông Thị Tịch vào năm đầu (1032) niên hiệu Minh Đạo (明道), hưởng thọ 69 tuổi. Hậu Thế Tôn xưng ông là Từ Vân Sám Chủ (慈雲懺主). Trước tác ông để lại có Vãng Sanh Tịnh Độ Sám Nghĩa (往生淨土懺儀), Kim Quang Minh Sám Pháp (金光明懺法), v.v.