Tứ Trí

《四智》 sì zhì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: catvāri jñānāni: 4 Loại Trí tuệ, có nhiều giải thích khác nhau. (1) Tứ Trí là quả vị Phật, được thiết lập bởi Duy Thức Tông; tức lấy thức thứ 8, thứ 7, thứ 6 và thứ 5 để chuyển thành 4 Loại Trí tuệ vô lậu; gồm Đại Viên Cảnh Trí (), Bình Đẳng Tánh Trí (), Diệu Quan Sát Trí ()Thành Sở Tác Trí (). Trong Mật Giáo có thêm vào Pháp Giới Thể Tánh Trí () và hình thành Ngũ Trí (). Ngoại trừ Pháp Giới Thể Tánh Trí biểu thị cho Đại Nhật Như Lai () ở trung ương, 4 trí còn lại thể hiện cho 4 trí tuệ của 4 đức Phật. Theo Kim Cang Giới mà nói, Đại Viên Cảnh Trí biểu thị cho Đông Phương A Súc Phật (), Bình Đẳng Tánh Trí cho Nam Phương Bảo Sanh Phật (), Diệu Quan Sát Trí cho Tây Phương Vô Lượng Thọ Phật (西), và Thành Sở Tác Trí cho Bắc Phương Thiên Cổ Lôi Âm Phật (). (2) Là 4 Loại Trí đạt được do Bồ Tát quán Duy Thức Vô Cảnh, và cũng là các Loại Trí do Duy Thức Tông lập ra để luận phá Ngoại Đạo chấp có thật ngã cũng Như Thật pháp. Theo Nhiếp Đại Thừa Luận () quyển trung, Thành Duy Thức Luận () quyển 7, Tứ Trí gồm Tương Vi Thức Tướng Trí (, tức quán cảnh tùy theo Nghiệp Lực của người, trời, quỷ, súc sanh, v.v., không giống nhau nên biến hiện cũng không đồng nhất, vì vậy cảnh không thật có); Vô Sở Duyên Thức Trí (, tức quán thức sanh ra đều do duyên của cảnh không thật thuộc Quá Khứ, tương lai, mộng, v.v., hết thảy cảnh giới đều do tâm hiện ra; cho nên quán chỉ có thức mà không có cảnh); Tự Ứng Vô Đảo Trí (, tức quan cảnh nếu là thật, tất hết thảy Phàm Phu đều làm thánh cả, do vì xưa nay chứng ngộ cảnh ngoài tâm là tự nhiên Thành Tựu mà không Điên Đảo; tuy nhiên, kẻ Phàm Phu cũng phải mượn công dụng của ngoại cảnh để đạt được giải thoát; vì vậy, cảnh cũng không có thật); Tùy Tam Trí Chuyển Trí (, trí tuệ tùy theo ba Loại Trí để quán sát và chuyển cảnh tướng; Ba Trí là Tùy Tự Tại Giả Trí Chuyển Trí [], Tùy Quán Sát Giả Trí Chuyển Trí [], và Tùy Vô Phân Biệt Trí Chuyển Trí []). (3) Là 4 Loại Trí tuệ của bậc La Hán, hay trí tuệ Nội Chứng Tứ Đế (Sanskrit: catur-ārya-satya, Pāli: catu-ariya-sacca ) của hàng Nhị Thừa, vô học Thánh Nhân. Theo Thắng Man Kinh Nhất Thừa Chương (), Thành Duy Thức Luận Thuật Ký () quyển 9, v.v., 4 Loại Trí này gồm: Ngã Sanh Dĩ Tận (, chỉ đoạn tận Khổ Quả của tương lai, chấm dứt Tái Sanh, là trí tuệ đoạn trừ các nhân gây khổ đau), Phạm Hạnh Dĩ Lập (, chỉ tu tập Thành Tựu Thánh Đạo vô lậu, đã An Lập Phạm Hạnh, là trí tuệ tu đạo), Sở Tác Dĩ Biện (, những việc cần làm đã làm xong, chỉ sự đoạn tận các chướng ngại), và Bất Thọ Hậu Hữu (, không còn Tái Sanh, tức bậc Thánh Nhân vô học đã dứt trừ các hoặc nghiệp Sanh Tử, không còn thọ các Khổ Quả trong đời sau, là trí tuệ đoạn khổ). (4) Đại Trí Độ Luận () quyển 27 có thuyết về 4 Loại Trí khác như: Đạo Tuệ (, trí tuệ biết được đạo); Đạo Chủng Tuệ (, đạo có vô lượng Sai Biệt, trí tuệ này có thể thông đạt đạo vô lượng); Nhất Thiết Trí (, không trí biết được tướng của các pháp là vắng lặng)Nhất Thiết Chủng Trí (, trí tuệ biết được tướng của các pháp là vắng lặng, nhận rõ hết thảy các hành loại, Sai Biệt là có không, biến chiếu).