Tứ Thánh

《四聖》 sì shèng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: bốn vị Thánh, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh như thánh, gồm chuyên húc (), vua Khốc (), vua Nghiêu (), và vua Thuấn (). (2) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh khác là vua Nghiêu, Thuấn, Vũ () và Thang (). Như trong Dịch Lâm (), phần Phục Chi Đại Quá (), của Tiêu Cống (, ?-?) nhà Hán, có câu: “Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Tứ Thánh đôn nhân, doãn thí đức âm, dân an vô cùng (, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Bốn Thánh đôn hậu nhân từ, ban khắp âm đức, dân an vô cùng).” (3) Chỉ cho 4 vị vua Phục Nghi (), Hiên Viên (, tức Hoàng Đế []), Cao Tân (, tức vua Khốc) và Vũ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm () có đoạn rằng: “Phục Nghi thọ đồ, Hiên Viên thọ phù, Cao Tân thọ thiên kinh, Hạ Vũ Thọ Lạc Thư; Tứ Thánh bẩm kỳ thần linh, Ngũ Lão hiện ư hà chử (, Phục Nghi nhận bản đồ, Hiên Viên nhận lá phù, Cao Tân nhận kinh trời, Hạ Vũ nhận Lạc Thư; Bốn Thánh vâng thần linh ấy, Năm Lão hiện nơi bãi sông).” (4) Chỉ cho Chu Công (), Thái Công (), Chiêu Công () và Sử Dật (). (5) Chỉ cho 4 vị vua anh minh như bậc thánh thời nhà Đường là Túc Tông (, tại vị 756-762), Đại Tông (, tại vị 762-779), Đức Tông (, tại vị 779-805) và Thuận Tông (, tại vị 805). (6) Nhà y học gọi Hoàng Đế (), Kì Bá (), Tần Việt Nhân (, tức Biển Thước [, 407-310 ttl.]) và Trương Cơ (, 150-219)Tứ Thánh. (7) Khi Mười Giới phân ra Phàm Thánh, Thanh Văn (Sanskrit: śrāvaka, ), Duyên Giác (Sanskrit: pratyeka-buddha, Pāli: pacceka-buddha ), Bồ Tát (Sanskrit: bodhisattva, Pāli: bodhisatta ) và Phật (s, Pāli: buddha ) được gọi là Tứ Thánh, còn các cõi kia là Lục Phàm (, sáu hạng Phàm Phu). Các vị Thánh này đã xa lìa Phiền Não, đoạn Tận Khổ của Luân Hồi. (8) Chỉ cho 4 quả vị của Thanh Văn là Dự Lưu (), Nhất Lai (), Bất Hoàn () và Vô Học (, tức A La Hán). (9) Chỉ 4 ngôi tôn kính được Lễ Bái trong Thiền Tông, gồm Phật A Di Đà (Sanskrit: Amitābha, ), Bồ Tát Quan Thế Âm (Sanskrit: Avalokiteśvara, ), Bồ Tát Đại Thế Chí (Sanskrit: Mahāsthāmaprāpta, )Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1) Chỉ cho 4 cao đệ của Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, , 344-413) là Đạo Sanh (, 355-434), Tăng Triệu (, 384-414), Đạo Dung (, ?-?)Tăng Duệ (, ?-?). Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 36 có đoạn rằng: “La Thập Đệ Tử hữu Sanh Triệu Dung Duệ, thời hiệu Quan Trung Tứ Thánh (, Đệ Tử của La Thập có Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo DungTăng Duệ; đương thời gọi là Bốn Thánh của Quan Trung).” Trong Lạc Bang Văn Loại (, Taishō Vol. 47, No. 1969A) lại có đoạn rằng: “Tịnh nhi Tứ Thánh, nhiễm nhi Lục Phàm, ngô tâm chi Tứ Thánh Lục Phàm dã (, tịnh là Bốn Thánh, nhiễm là Sáu Phàm, đó là Bốn Thánh Sáu Phàm của tâm ta vậy).”