Trúc Tiên Phạn Tiên

《竺仙梵僊》 zhú xiān fàn xiān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jikusen Bonsen, 1292-1348: vị tăng của phái Dương Kì () và Tùng Nguyên () thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Trúc Tiên (), tự xưng là Lai Lai Thiền Tử (), hiệu Tịch Thắng Tràng (), Tư Quy Tẩu (), sinh ngày 15 tháng 11 năm thứ 29 niên hiệu Chí Nguyên (), xuất thân Huyện Tượng Sơn (), Minh Châu (, Tỉnh Triết Giang), họ Từ (). Năm lên 10 tuổi, ông làm thị đồng cho Biệt Lưu Nguyên ()Tư Phước Tự (), Ngô Hưng (, Tỉnh Triết Giang), đến năm 18 tuổi, ông lên Linh Sơn () ở Hàng Châu (, Tỉnh Triết Giang), tham yết Thoại Vân Ẩn (), Lễ Bái tháp của thầy là Hổ Nham Tịnh Phục ()Xuất Gia. Sau đó, ông đi dạo khắp các ngôi Danh Lam, đến tham yết các bậc lão túc như Hối Cơ Nguyên Hy (), Vân Ngoại Vân Tụ (), Nguyên Tẩu Hành Đoan (), Đông Dư Đức Hải (), Chỉ Nham Phổ Thành (), Trung Phong Minh Bổn (), v.v., bên cạnh đó, ông còn đến tham vấn Cổ Lâm Thanh Mậu () và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào mùa hè năm thứ 2 (1329) niên hiệu Thiên Lịch (), ông lên Kính Sơn (), may gặp lúc Minh Cực Sở Tuấn () sang Nhật nên ông tháp tùng đi theo, đến tháng 6 năm đầu (1329) niên hiệu Nguyên Đức () ông đến Thái Tể Phủ () và tháng 2 năm sau mới đến được vùng Liêm Thương (, Kamakura). Khi Bắc Điều Cao Thời () nghênh đón Minh Cực đến làm trú trì Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji), ông được cử làm Thủ Tòa nơi đây. Đến năm đầu (1332) niên hiệu Chánh Khánh (), vâng mệnh Cao Thời, ông chuyển đến Tịnh Diệu Tự (, Jōmyō-ji), được Tôn Thị (), Trực Nghĩa () sùng kính và mời đến Thuyết Pháp tại tư gia của họ. Vào năm đầu (1334) niên hiệu Kiến Võ (), vâng mệnh của chính quyền Mạc Phủ, ông làm trú trì Tịnh Trí Tự (, Jōchi-ji), rồi năm sau Đằng Nguyên Cao Cảnh () thỉnh ông đến làm tổ Khai Sơn Vô Lượng Tự (, Muryō-ji) ở Tam Phố (, Miura). Đến năm đầu (1338) niên hiệu Lịch Ứng (), ông lui về ẩn cư ở Tịnh Trí Tự. Vào mùa xuân năm thứ 4 cùng niên hiệu trên, vâng sắc mệnh của thiên triều, ông đến trú tại Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji). Vào năm thứ 3 (1344) niên hiệu Khang Vĩnh (), ông sáng lập ra Lăng Già Viện () và lui về ẩn cư nơi đây, đến năm thứ 2 (1346) niên hiệu Trinh Hòa (), ông chuyển về Chơn Như Tự () và năm sau thì trở về Kiến Trường Tự. Vào ngày 16 tháng 7 năm thứ 4 cùng niên hiệu trên, ông Thị Tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 39 Hạ Lạp. Ông có một số trước tác như Trúc Tiên Hòa Thượng Ngữ Lục (), Pháp Ngữ (), Viên Giác Kinh Chú (), v.v. Liễu Am Thanh Dục () soạn bản Kiến Trường Thiền Tự Trúc Tiên Hòa Thượng Hành Đạo().