Trú Trì, Trụ Trì

《住持》 zhù chí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

jūji: nguyên ban đầu có ý nghĩa là sống lâu, hộ trì Phật Pháp; nhưng sau này chuyển sang nghĩa chỉ cho vị tăng chưởng quản một ngôi chùa; còn gọi là Trú Trì Chức (), gọi tắt là Trú Chức (, jūshoku); hay gọi là Duy Na (), Tự Chủ (). Từ sau thời nhà Tống (, hay Lưu Tống [], 420-479) trở đi, chức danh Trú Trì được dùng rộng rãi trong Thiền Lâm. Khi Phật Giáo đầu tiên mới du nhập vào Trung Quốc, những người tu Thiền lấy đạo truyền trao cho nhau, hoặc là sống trong hang động núi rừng, hoặc nương nơi các ngôi chùa Luật; và thưở ấy chưa có tên gọi Trú Trì. Mãi đến thời nhà Đường (, 618-907), Thiền Phong dần dần hưng thịnh, đồ chúng mỗi ngày một tăng, Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải (, 749-814) mới bắt đầu chế ra chức Trú Trì; sau này được tôn xưng là Trưởng Lão (), hay Phương Trượng (). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa(, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 5 có ghi rằng: “Thiền Tông Trú Trì, nhi xưng chi viết Trưởng Lão, dĩ xỉ đức cụ tôn dã (, vị Trú Trì trong Thiền Tông được gọi là Trưởng Lão, vì coi trọng đức của vị ấy đủ tôn kính).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 2, phần Trú Trì Nhật Dụng () có giải thích chi tiết 16 Pháp Vị Trú Trì phải Hành Trì bao quát hằng ngày, gồm: (1) Thượng Đường (, Thuyết Pháp cho đại chúng tại Pháp Đường), (2) Vãn Tham (, buổi chiều Thuyết Pháp, giáo huấn cho đại chúng tại Pháp Đường), (3) Tiểu Tham (, Thuyết Pháp không phải theo thời gian quy định), (4) Cáo Hương (, Thuyết Pháp khai thị cho vị tăng mới đến), (5) Phổ Thuyết (, Thuyết Pháp), (6) Nhập Thất (), (7) Niệm Tụng (), (8) Tuần liêu (, tuần tra các liêu phòng của chúng tăng), (9) Túc chúng (, giám sát và đốc thúc đại chúng), (10) Huấn Đồng Hành (, dạy cho chúng điệu nhỏ mới vào tu), (11) Vị Hành Giả Phổ Thuyết (, Thuyết Pháp cho Hành Giả), (12) Thọ Pháp Y (, nhận Pháp Y), (13) Nghênh thị tôn túc (宿, nghinh tiếp chư tôn túc đến thăm), (14) Thí Chủ thỉnh thăng tòa Trai Tăng (, Thí Chủ cung thỉnh lên tòa chứng minh, thọ nhận lễ Trai Tăng), (15) Thọ Từ Pháp Nhân Tiên điểm (, châm trà Tiếp Đãi những vị đến thọ nhận Từ Pháp), (16) Từ Pháp sư di thư chí (, vị thầy Truyền Pháp mang từ thư đến). Trú Trì là người phải đầy đủ đức hạnh kiêm toàn, nên trong Pháp Uyển Châu Lâm (, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 30 có câu: “Tương dục Trú Trì Tam Bảo, tất tu đức hạnh nội sung (, nếu muốn Trú Trì Tam Bảo, tất phải có đầy đủ đức hạnh bên trong).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263) quyển 4 có nêu ra 4 yếu tố cần thiết cho vị Trú Trì: “Trú Trì chi thể hữu tứ yên, nhất Đạo Đức, nhị ngôn hạnh, tam nhân nghĩa, tứ lễ pháp; Đạo Đức ngôn hạnh, nãi giáo chi bổn, nhân nghĩa lễ pháp, nãi giáo chi mạt dã; vô bổn bất Năng Lập, vô mạt bất năng thành (, thể của Trú Trì có bốn điều, một là Đạo Đức, hai là ngôn hạnh, ba là nhân nghĩa, bốn là lễ pháp; Đạo Đức ngôn hạnh là gốc của giáo pháp; nhân nghĩa lễ pháp là rễ của giáo pháp; không gốc thì không đứng vững được, không rễ thì không hình thành được).” Cho nên, Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Khả kiến vi tăng giả, toàn lại tu Hành Vi bổn, sở vị trú trì giả hữu Đạo Đức, tắc Tùng Lâm nhật an, vô tắc Tùng Lâm nhật nguy (, có thể thấy rằng làm tăng sĩ toàn bộ đều lấy việc tu hành làm gốc, gọi là vị Trú Trì có Đạo Đức thì Tùng Lâm ngày một yên ổn, nếu không thì Tùng Lâm ngày một nguy khốn).” Quyển 5 của tác phẩm trên còn cho biết rằng: “Linh Sơn trú trì, Đại Ca Diếp thống chi; Trúc Lâm trú trì, Xá Lợi Phất chủ chi (, trù trì Linh Sơn do Đại Ca Diếp thống quản, trú trì Trúc Lâm Tinh Xá do Xá Lợi Phất làm chủ).” Hay trong Niệm Phật Tam Muội (, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1190) cũng nêu rõ rằng: “Ta Bà Thế Giới, Thích Tôn trú trì, Hoa Tạng Thế Giới, Lô Xá Na Thế Tôn trú trì (, Thế Giới Ta Bà do đức Thích Tôn trú trì, Thế Giới Hoa Tạng do đức Thế Tôn Lô Xá Na trú trì).”