Thập Lục La Hán
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các Đệ Tử Đắc Đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có Phó Chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên Thế Gian để truyền bá Phật Pháp, đem lại Lợi Ích cho Chúng Sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các Đệ Tử Đắc Đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có Phó Chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên Thế Gian để truyền bá Phật Pháp, đem lại Lợi Ích cho Chúng Sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Đến thời nhà Đường (618-907), khi nhà Dịch Kinh nổi tiếng Huyền Tráng (玄奘, 602-664) dịch tác phẩm Pháp Trú Ký, tên gọi của 16 vị này được biết đến bằng Hán ngữ, từ đó Tín Ngưỡng về Thập Lục La Hán cũng bắt đầu thịnh hành dưới thời này. Từ cuối thời nhà Đường cho đến thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979), các tác phẩm hội họa cũng như điêu khắc về 16 vị La Hán này bắt đầu xuất hiện. Một số danh gia như Lô Lăng Già (盧楞伽), Vương Duy (王維, 701-761), Đào Thủ Lập (陶守立), Quán Hưu (貫休, 832-912). Theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trú Ký (大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記, bản Hán ngữ là Pháp Trú Ký), danh xưng của 16 vị này là:(1) Tân Độ La Bạt Ra Nọa Xà (Sanskrit: Piṇḍolabharadvāja, 賓度羅跋囉惰闍) cùng với 1.000 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Tây Ngưu Hóa Châu (Sanskrit: Apara-godhānīya, 西牛貨洲).(2) Ca Nặc Ca Phạt Sa (Sanskrit: Kanakavatsa, 迦諾迦伐蹉) cùng với 500 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại phương bắc nước Ca Thấp Di La (Sanskrit: Kaśmīra, Pāli: Kasmīra 迦濕彌羅).(3) Ca Nặc Ca Bạt Li Nọa Xà (Sanskrit: Kanakabharadvāja, 迦諾迦跋厘惰闍) cùng với 600 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Đông Thắng Thân Châu (Sanskrit: Pūrva-videha, 東勝身洲).(4) Tô Tần Đà (Sanskrit: Subinda, 蘇頻陀) cùng với 700 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Bắc Cu Lô Châu (Sanskrit: Uttara-kuru, 北倶盧洲).(5) Nặc Cự La (Sanskrit: Nakula, 諾距羅) cùng với 800 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Nam Thiệm Bộ Châu (Sanskrit: Jampudīpa, 南贍部洲).(6) Bạt Đà La (Sanskrit: Bhadra, 跋陀羅) cùng với 900 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Đam Một La Châu (耽沒羅洲).(7) Ca Lí Ca (Sanskrit: Kālika, 迦理迦) cùng với 1.000 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Tăng Già Trà Châu (僧伽荼洲).(8) Phạt Già La Phất Đa La (Sanskrit: Vajraputra, 伐闍羅弗多羅) cùng với 1.100 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Bát Thích Noa Châu (缽刺拏洲).(9) Thú Bác Ca (Sanskrit: Jīvaka, 戍博迦) cùng với 900 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú trong Hương Túy Sơn (香醉山).(10) Bán Thác Ca (Sanskrit: Panthaka, 半託迦) cùng với 1.300 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại cõi trời thứ 33.(11) La Hỗ La (Sanskrit: Rāhula, 羅怙羅) cùng với 1.100 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Tất Lợi Dương Cù Châu (畢利颺瞿洲).(12) Na Già Tê Na (Sanskrit: Nāgasena, 那伽犀那) cùng với 1.200 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Bán Độ Ba Sơn (半度波山).(13) Nhân Yết Đà (Sanskrit: Aṅgaja, 因揭陀) cùng với 1.300 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Quảng Hiếp Sơn (廣脅山).(14) Phạt Na Ba Tư (Sanskrit: Vanavāsin, 伐那婆斯) cùng với 1.400 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Khả Trú Sơn (可住山).(15) A Thị Đa (Sanskrit: Ajita, 阿氏多) cùng với 1.500 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Thứu Phong Sơn (鷲峰山).(16) Chú Đồ Bán Thác Ca (Sanskrit: Cūḍapanthaka, 注荼半托迦, tức Châu Lợi Bàn Đà Già [周利槃陀伽]) cùng với 1.600 A La Hán Quyến Thuộc, phần lớn trú tại Trì Tụ Sơn (持軸山) Tại các Già Lam, tự viện có an trí 16 tôn tượng La Hán này, 18 La Hán hay 500 La Hán. Như vậy 18 La Hán cũng phát xuất từ 16 La Hán nêu trên, sau này dân gian Trung Quốc thêm vào 2 vị nữa, thành ra con số
18. Thuyết Thập Bát La Hán rất thịnh hành tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Có nhiều Nguyên Nhân giải thích việc biến thành Thập Bát La Hán, trong đó có thuyết giải thích người dân cổ đại Trung Quốc cho rằng con số 9 là số Cát Tường, tốt đẹp; vì vậy từ cuối thời nhà Đường người ta thêm 2 vị vào trong Thập Lục La Hán. Đến sau thời nhà Tống, Nguyên, thuyết về Thập Bát La Hán trở thành rất phổ cập trong dân gian cũng như văn học Trung Quốc; như trong tác phẩm Tây Du Ký (西遊記) có câu chuyện 18 vị La Hán đấu với Ngộ Không. Theo Bí Điện Châu Lâm Tục Biên (秘殿珠林續編) được hình thành dưới thời nhà Thanh, vua Càn Long (乾隆) có bài đề tụng 2 vị tôn giả cuối cùng trong 18 vị này là Hàng Long La Hán (降龍羅漢) tức Ca Diếp Tôn Giả (迦葉尊者), Phục Ma La Hán (伏虎羅漢) tức Di Lặc Tôn Giả (彌勒尊者). Ngoài ra, còn có thuyết khác về Thập Bát La Hán như:(1) Hàng Long La Hán (降龍羅漢), tức Khánh Hữu Tôn Giả (慶友尊者), tương truyền đã từng hàng phục con rồng ác độc.(2) Tọa Lộc La Hán (坐鹿羅漢), tức Tân La Bạt La Đa Tôn Giả (賓羅跋羅多尊者), từng cỡi hươu vào hoàng cung khuyến dụ Quốc Vương học Phật, tu hành.(3) Cử Bát La Hán (舉缽羅漢), tức Ca Nặc Ca Bạt Li Tùy Các (迦諾迦跋厘隋閣), là Hành Giả từng cầm bình bát đi Khất Thực hóa duyên.(4) Quá Giang La Hán (過江羅漢), tức Bạt Đà La Tôn Giả (跋陀羅尊者), tương truyền ông qua sông nhẹ như con chuồn chuồn.(5) Phục Hổ La Hán (伏虎羅漢), tức Tân Đầu Lô Tôn Giả (賓頭盧尊者), từng hàng phục mãnh hổ.(6) Tĩnh Tọa La Hán (靜坐羅漢), tức Nặc Cự La Tôn Giả (諾距羅尊者), còn gọi là Đại Lực La Hán (大力羅漢), do vì trong thời Quá Khứ ông xuất thân là võ sĩ, cho nên sức mạnh vô song.(7) Trường Mi La Hán (長眉羅漢), tức A Thị Đa Tôn Giả (阿氏多尊者), tương truyền khi ông ra đời có hai sợi lông mi dài.(8) Bố Đại La Hán (布袋羅漢), tức Nhân Yết Đà Tôn Giả (因揭陀尊者), thường mang trên một túi vải, thường mở miệng là cười.(9) Khán Môn La Hán (看門羅漢), tức Chú Đồ Bán Thác Ca Tôn Giả (注荼半托迦), hay Châu Lợi Bàn Đà Già (周利槃陀伽), vì người tận trung giữ gìn chức phận mình.(10) Thám Thủ La Hán (探手羅漢), tức Bán Thác Ca Tôn Giả (半托迦尊者), nhân khi ngồi thường chỉ tay lên không trung nên có tên như vậy.(11) Trầm Tư La Hán (沉思羅漢), tức La Hỗ La Tôn Giả (羅怙羅尊者), một trong 10 đại Đệ Tử của Phật, lấy mật hạnh làm đầu.(12) Kỵ Tượng La Hán (騎象羅漢), tức Ca Lí Ca Tôn Giả (迦理迦尊者), hay Tuần Tượng Sư (馴象師, bậc thầy thuần hóa voi nên thường cỡi voi).(13) Hoan Hỷ La Hán (歡喜羅漢), tức Ca Nặc Phạt Sa Tôn Giả (迦諾伐蹉尊者), nguyên là một nhà hùng biện thời cổ đại Ấn Độ.(14) Tiếu Sư La Hán (笑獅羅漢), tức La Phất Đa Tôn Giả (羅弗多尊者), nguyên là thợ săn, nhân học Phật nên từ bỏ sát sanh, sư tử đến tạ ơn, nên có tên như vậy.(15) Khai Tâm La Hán (開心羅漢), tức Thú Bác Ca Tôn Giả (戍博迦尊者), giúp người hiểu được Phật trong tâm mình.(16) Thác Tháp La Hán (托塔羅漢), tức Tô Tần Đà (蘇頻陀), là Đệ Tử được đức Phật thâu nhận cuối cùng; ông nhớ đến đức Phật nên thường mang theo tháp Phật trên tay.(17) Ba Tiêu La Hán (芭蕉羅漢), tức Phạt Na Bà Tư Tôn Giả (伐那婆斯尊者), sau khi Xuất Gia ông thường ngồi tu hành Công Phu dưới gốc cây chuối, nên có tên như vậy.(18) Oạt Nhĩ La Hán (挖耳羅漢), tức Na Ca Tê Na Tôn Giả (那迦犀那尊者), do ông nổi tiếng là nhĩ căn thanh tịnh nên thường được gọi là La Hán Móc Tai.
18. Thuyết Thập Bát La Hán rất thịnh hành tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Có nhiều Nguyên Nhân giải thích việc biến thành Thập Bát La Hán, trong đó có thuyết giải thích người dân cổ đại Trung Quốc cho rằng con số 9 là số Cát Tường, tốt đẹp; vì vậy từ cuối thời nhà Đường người ta thêm 2 vị vào trong Thập Lục La Hán. Đến sau thời nhà Tống, Nguyên, thuyết về Thập Bát La Hán trở thành rất phổ cập trong dân gian cũng như văn học Trung Quốc; như trong tác phẩm Tây Du Ký (西遊記) có câu chuyện 18 vị La Hán đấu với Ngộ Không. Theo Bí Điện Châu Lâm Tục Biên (秘殿珠林續編) được hình thành dưới thời nhà Thanh, vua Càn Long (乾隆) có bài đề tụng 2 vị tôn giả cuối cùng trong 18 vị này là Hàng Long La Hán (降龍羅漢) tức Ca Diếp Tôn Giả (迦葉尊者), Phục Ma La Hán (伏虎羅漢) tức Di Lặc Tôn Giả (彌勒尊者). Ngoài ra, còn có thuyết khác về Thập Bát La Hán như:(1) Hàng Long La Hán (降龍羅漢), tức Khánh Hữu Tôn Giả (慶友尊者), tương truyền đã từng hàng phục con rồng ác độc.(2) Tọa Lộc La Hán (坐鹿羅漢), tức Tân La Bạt La Đa Tôn Giả (賓羅跋羅多尊者), từng cỡi hươu vào hoàng cung khuyến dụ Quốc Vương học Phật, tu hành.(3) Cử Bát La Hán (舉缽羅漢), tức Ca Nặc Ca Bạt Li Tùy Các (迦諾迦跋厘隋閣), là Hành Giả từng cầm bình bát đi Khất Thực hóa duyên.(4) Quá Giang La Hán (過江羅漢), tức Bạt Đà La Tôn Giả (跋陀羅尊者), tương truyền ông qua sông nhẹ như con chuồn chuồn.(5) Phục Hổ La Hán (伏虎羅漢), tức Tân Đầu Lô Tôn Giả (賓頭盧尊者), từng hàng phục mãnh hổ.(6) Tĩnh Tọa La Hán (靜坐羅漢), tức Nặc Cự La Tôn Giả (諾距羅尊者), còn gọi là Đại Lực La Hán (大力羅漢), do vì trong thời Quá Khứ ông xuất thân là võ sĩ, cho nên sức mạnh vô song.(7) Trường Mi La Hán (長眉羅漢), tức A Thị Đa Tôn Giả (阿氏多尊者), tương truyền khi ông ra đời có hai sợi lông mi dài.(8) Bố Đại La Hán (布袋羅漢), tức Nhân Yết Đà Tôn Giả (因揭陀尊者), thường mang trên một túi vải, thường mở miệng là cười.(9) Khán Môn La Hán (看門羅漢), tức Chú Đồ Bán Thác Ca Tôn Giả (注荼半托迦), hay Châu Lợi Bàn Đà Già (周利槃陀伽), vì người tận trung giữ gìn chức phận mình.(10) Thám Thủ La Hán (探手羅漢), tức Bán Thác Ca Tôn Giả (半托迦尊者), nhân khi ngồi thường chỉ tay lên không trung nên có tên như vậy.(11) Trầm Tư La Hán (沉思羅漢), tức La Hỗ La Tôn Giả (羅怙羅尊者), một trong 10 đại Đệ Tử của Phật, lấy mật hạnh làm đầu.(12) Kỵ Tượng La Hán (騎象羅漢), tức Ca Lí Ca Tôn Giả (迦理迦尊者), hay Tuần Tượng Sư (馴象師, bậc thầy thuần hóa voi nên thường cỡi voi).(13) Hoan Hỷ La Hán (歡喜羅漢), tức Ca Nặc Phạt Sa Tôn Giả (迦諾伐蹉尊者), nguyên là một nhà hùng biện thời cổ đại Ấn Độ.(14) Tiếu Sư La Hán (笑獅羅漢), tức La Phất Đa Tôn Giả (羅弗多尊者), nguyên là thợ săn, nhân học Phật nên từ bỏ sát sanh, sư tử đến tạ ơn, nên có tên như vậy.(15) Khai Tâm La Hán (開心羅漢), tức Thú Bác Ca Tôn Giả (戍博迦尊者), giúp người hiểu được Phật trong tâm mình.(16) Thác Tháp La Hán (托塔羅漢), tức Tô Tần Đà (蘇頻陀), là Đệ Tử được đức Phật thâu nhận cuối cùng; ông nhớ đến đức Phật nên thường mang theo tháp Phật trên tay.(17) Ba Tiêu La Hán (芭蕉羅漢), tức Phạt Na Bà Tư Tôn Giả (伐那婆斯尊者), sau khi Xuất Gia ông thường ngồi tu hành Công Phu dưới gốc cây chuối, nên có tên như vậy.(18) Oạt Nhĩ La Hán (挖耳羅漢), tức Na Ca Tê Na Tôn Giả (那迦犀那尊者), do ông nổi tiếng là nhĩ căn thanh tịnh nên thường được gọi là La Hán Móc Tai.