Tây Vức, Tây Vực
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: tên gọi chung một dãy các nước ở phương Tây theo tri thức của người Ấn Độ xưa, phạm vi của nó không thể nào hạn định một cách nghiêm mật được. Rộng ra bao gồm cả Ấn Độ, Iran, Ai Cập hiện tại, còn về nghĩa hẹp nó ám chỉ khu vực trung ương Châu Á trong vùng Bản Địa Tarim của miền Nam bán bộ Tỉnh Tân Cương; ở trung tâm cao nguyên Pamir về phía Đông có các nước như Cao Xương (高昌), Quy Tư (龜茲), Sớ Lặc (疏勒), Sa Xa (莎車), Vu Chấn (于闐); về phía Tây có Giả Thời (赭時), Táp Mạt Kiến (颯秣建), Đỗ Hóa La (覩化羅), v.v. Trong Tây Vức Truyện (西域傳) của Hán Thư (漢書) có ghi khoảng hơn 30 nước phân bố trong địa khu Tây Vức, cho nên mới có thuyết “Tây Vức Tam Thập Lục Quốc (西域三十六國).” Trước khi Trương Khiên (張騫, ?-114 trước CN) đả thông Tây Vức, Hung Nô (匈奴) chi phối thế lực các nước trong khu vực này. Đến thời Hán, phạm vị quản hạt của Cơ Quan hành chính Tây Vức Đô Hộ Phủ (西域都護府) có 36 nước. Sau này Cao Tăng Huyền Trang (玄奘, 602-664) có viết tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō No. 2087) 12 quyển. Trong Phật Giáo, Tây Vức được dùng để chỉ cho Ấn Độ, Quốc Độ của chư Phật, Bồ Tát. Như trong bài cúng linh có câu: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức Cửu Liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”