Tăng Thuyên

《僧詮》 sēng quán

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Chỉ Quán thuyên. Cao Tăng Trung Quốc thuộc tông Tam Luận sống vào đời Lương, Nam triều. Năm Thiên giám 11 (512), vua Lương Vũ Đế ban sắc cho sư cùng với 9 vị tăng khác như các Sư Tăng hoài, Tuệ linh... đến chùa Chỉ Quán tại Nhiếp sơn theo ngài Tăng Lãng học tập, nghiên cứu nghĩa lí Tam Luận, về sau chỉ một mình sư đắc pháp. Bấy giờ, học thuyết luận Thành thực đang thịnh hành ở Giang nam,mà Tam Luận thì yếu kém, sư bèn tiếp nối ngài Tăng Lãng trụ trì chùa Chỉ Quán, chấn hưng học thuyết Tam Luận. Vì thế, người đời sau gọi giáo nghĩa Tam Luận trước ngài Tăng LãngTăng Thuyên là Cựu thuyết, sau 2 ngài là Tân thuyết. Hải Ấn huyền huyền lục của ngài Minh đạo nói: Trong khoảng thời gian từ ngài Cưu Ma La Thập đến ngài Cát Tạng gồm 7 đời truyền nối, Tam Luận có Tân và Cựu khác nhau. Trong đó, từ ngài Trúc Đạo Sinh đến ngài Đạo Lãng (e là Tăng Lãng) ở Hà tây dùng giáo nghĩa pháp tướng của ngài La thập để thành lập tông Vô sở đắc; còn từ ngài Tăng Thuyên ở Nhiếp lãnh đến ngài Cát Tạng thì lập riêng giáo nghĩa pháp tướng để thành lập tông Vô sở đắc. Thuyết trước là Cựu, thuyết sau là Tân. Học trò ngài Tăng Thuyên có tới vài trăm vị, trong đó có 4 vị: Pháp Lãng, Tuệ bố, Trí biện và Tuệ dũng được gọi là Tăng Thuyên Tứ Hữu, hoặc gọi Tăng Thuyên Môn Hạ Tứ Triết(Bốn người bạn, hoặc 4 người Đệ Tử hiền trí của ngài Tăng Thuyên). [X. Tam Luận Tổ Sư Truyện Tập; Tục Cao Tăng Truyện Q. 7.; Bát Tông Cương Yếu Q.hạ; chương 18 trong Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật giáo sử; Nhiếp sơn chi Tam Luận Tông sử lược khảo (Sử học tạp chí 2 Q. 5.)].