Tăng Thượng Duyên

《增上緣》 zēng shàng yuán

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Adhipati-pratyaya.
I. Tăng Thượng Duyên. Nguyên Nhân gián tiếp giúp cho tất cả pháp Hữu Vi Sinh Khởi hay kết quả, là 1 trong 4 duyên; nghĩa là bất cứ lực dụng mạnh mẽ nào có khả năng giúp thêm sức cho sự Sinh Khởi hoặc đưa đến kết quả của các pháp khác thì đều gọi là Tăng Thượng Duyên. Như 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh sinh ra 6 thức, trong đó có những lực dụng Tăng Thượng giúp cho các pháp khi Sinh Khởi không bị ngăn ngại. Cũng như ruộng, phân, nước... đều là Tăng Thượng Duyên giúp cho lúa mạ phát triển mạnh và kết quả tốt. Tăng Thượng Duyên được chia làm 2:
1. Dữ lực Tăng Thượng Duyên: Chỉ cho Tăng Thượng Duyên giúp sức để Thành Tựu sự Sinh Khởi của các pháp.
2. Bất chướng Tăng Thượng Duyên: Chỉ cho Tăng Thượng Duyên không gây trở ngại cho sự Sinh Khởi của các pháp. Do đó mà biết tất cả muôn pháp trong vũ trụ đều có Công Năng của duyên này; vì thế ảnh hưởng của Tăng Thượng Duyên đối với các pháp phổ biến hơn ảnh hưởng của Sở Duyên Duyên. Tuy nhiên, phạm vi của Tăng Thượng Duyên cũng có chỗ hạn chế:1. Một vật không thể ảnh hưởnglại chính mình, tức 1 vật không thể là Tăng Thượng Duyên của bản thân.
2. Pháp Hữu Vi Không thể làm Tăng Thượng Duyên cho pháp Vô Vi, đó là vì pháp Vô Vi vốn là pháp vô sinh, cho nên không nằm trong phạm vi của 4 duyên. [X. luận Du Già sư địa Q. 52.; luận Đại tì Bà Sa Q. 17., 107; luận Tạp a tì đàm tâm Q. 2.; luận Đại trí độ Q. 31.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 7., phần cuối]. (xt. Tứ Duyên).
II. Tăng Thượng Duyên. Chỉ cho Bản Nguyện của đức Phật A di đà, là 1 trong 3 duyên Nhiếp Thủ. Tịnh Độ giáo lấy Bản Nguyện của đức Phật A di đà làm duyên Tăng Thượng giúp thêm cho việc vãng sinh Tịnh Độ của Chúng Sinh.Quán kinh Huyền Nghĩa Phần (Đại 37, 246 trung) nói: Phàm Phu mà được vãng sinh đều do nương vào Nghiệp Lực Đại Nguyện của đức Phật A di đà làm Tăng Thượng Duyên. (xt. Nhiếp Thủ).