Quyến Sách

《罥索》 juàn suǒ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: pāśa. Pàli: pāsa. Hán âm: Bá xả, Bá xa, Ba xá. Cũng gọi Kim Cương tác, Quyên tác, Quyên võng, Quyên sách, Bảo tác, Châu tác.Gọi tắt: Tác. Một loại dây dùng để chiến đấu hay săn bắt. Cứ theo Tuệ lâm Âm Nghĩa quyển 61, thì quyên tác (sách) là sợi dây thừng, khi chiến đấu, dùng để tròng bắt người, hoặc tròng vào đầu ngựa, chân ngựa để bắt nó, tục gọi là dây treo, thòng lọng. Thông thường được se bằng những sợi chỉ 5 màu, 1 đầu thêm cái vòng, đầu kia thêm nửa cái chày 1 chĩa (tức là hình nửa cái chày 1 chĩa); hoặc cả 2 đầu đều thêm nửa chày 1 chĩa. Trong Mật giáo, Quyên tác là1dụng cụ dùng để giáo hóa những kẻ cứng đầu ương bướng và hàng phục 4 loài ma, tượng trưng cho 4 nhiếp Phương Tiện, là vật cầm trong tay của Bất Động Minh Vương, Bất Không quyên sách Quán âm, Thiên thủ Quán âm và Kim Cương tác Bồ Tát. Như Bất Động Minh Vương tay phải cầm gươm sắc, tay trái cầm quyên tác là tượng trưng ý nghĩa trước dùng dâyTứ nhiếp trong tâm Bồ Đề thanh tịnh trói buộc Chúng Sinh để dắt dẫn, sau dùng gươm trí tuệ trong tâm Bồ Đề để đoạn Diệt Chủng tử Vô Minh căn bản của Chúng Sinh. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5 (Đại 39, 633 trung) nói: Sở dĩ cầm dao sắc, dùng dây buộc (quyên tác) là vâng mệnh Phẫn Nộ của Như Lai, muốn giết hết tất cả Chúng Sinh. Dây buộc là 4 nhiếp Phương Tiện trong tâm Bồ Đề, dùng dây này để trói những kẻ không hàng phục, dùng dao trí tuệ sắc bén chặt đứt mệnh nghiệp thọ vô cùng, khiến cho được đại vô sinh. Bồ Tát Kim Cương tác trong Tứ nhiếp Bồ Tát cũng dùng tay phải cầm dây buộc, biểu thị nghĩa bắt trói tất cả Chúng Sinh, khiến ra khỏi chỗ bùn lầy ứ đọng của trí Tam Ma Địa thực tế Nhị Thừa, mà đặt trong cung điện Pháp Giới của Giác vương. Tay của Thiên thủ Quán âm cầm dây buộc, gọi là Quyên tác thủ (tay dây buộc). Ngoài ra, Quyên tác cũng có nghĩa là giữ gìn, che chở, cho nên nếu đeo ở cổ thì được phúc Diệt Tội. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q. 2.; kinh Bất Không quyên sách Đà La Ni Tự Tại vương chú Q.hạ; kinh Để Lí Tam Muội da Q.thượng; Tuệ lâm Âm Nghĩa Q. 17., 29, 69].