Quang Tán Bát Nhã Ba La Mật Kinh

《光贊般若波羅蜜經》 guāng zàn bō rě bō luó mì jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Quang tán Ma Ha Bát Nhã kinh, Quang tán kinh, Quang tán Bát Nhã kinh. Kinh, 10 quyển, do Ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đờiTây Tấn, là bản dịch đầu tiên của kinh Đại phẩm Bát Nhã, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này tương đương với 25.000 bài tụng của 27 phẩm đầu trong 85 phẩm thuộc hội thứ 2 của kinh Bát Nhã Ba La Mật đa (kinh Đại Bát Nhã dongài Huyền Trang dịch) bản tiếng Phạm. Kinh này cũng tương đương với 30 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Phóng quang Bát Nhã 20 quyển do ngài Vô xoa la dịch và tương đương với 29 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật 27 quyển do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Bản tiếng Phạm của kinh này là do ngài Sa MônĐa La người nước Vu Điền đem đến nước Trung Quốc vào năm Thái Khang thứ 7 ( 286) đời Tây Tấn và đã được dịch ra vào ngày 25 tháng 11 cùng năm. Nội dung gồm 27 phẩm, bắt đầu từ phẩm Quang tán và kết thúc với phẩm Vũ Pháp Bảo.Về tên kinh của kinh này là do đứcPhật từ nơi lưỡi của Ngài phóng ra ánh sáng (quang) chiếu khắp ba nghìn Đại Thiên Thế Giới, trong ánh sáng sinh ra hoa sen, trên hoa sen lại có chư Phật xuất hiện và tán thánBát nhã này, vì thế nên đặt tên kinh là Quang tán Bát Nhã Ba La Mật. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát Tạng); Xuất Tam Tạng kí tập Q. 2., 7; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 2., 11; Đại Đường Nội Điển Lục Q. 2.].