Phóng Quang Bát Nhã Kinh

《放光般若經》 fàng guāng bō rě jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Paĩcaviôzatisàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi Phóng quang Bát Nhã Ba La Mật kinh, Phóng quang Ma Ha Bát Nhã kinh, Ma Ha Bát Nhã phóng quang kinh, Quang Bát Nhã Ba La Mật kinh, Phóng quang kinh. Kinh, 20 quyển, hoặc 30 quyển, do các ngài Vô la xoa (Vô xoa la)Trúc Thúc Lan cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh gồm 90 phẩm nói về pháp Bát Nhã Ba La MậtCông Đức của pháp này, đồng thời, khuyên Chúng Sinh Nên tu học pháp Bát Nhã. Cứ theo Phóng quang kinh kí (không rõ Tác Giả)trong Xuất Tam Tạng kí tập quyển 7, khoảng năm Cam lộ thứ 5 (260) đời Tề vương nhà Tào Ngụy, ngài Chu Sĩ Hành từ Dĩnh xuyên đến nước Vu điền sao chép được bản tiếng Phạm của kinh này gồm 96 chương hơn 60 vạn chữ. Sau đó, ngài Chu Sĩ Hành giao cho Đệ TửPhất Như Đàn đưa về Lạc Dương. Đến niên hiệu Nguyên khang năm đầu (291) đời Huệ đế nhà Tấn, mới do các ngài Vô la xoa(vị tăng người Vu điền)Trúc Thúc Lan dịch sang chữ Hán. Giữa kinh này và các kinh: Quang tán, 10 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật (Đại phẩm Bát Nhã), do ngài Cưu Ma La Thập dịch và Đệ nhị hội (quyển 401-478) kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật đa, do ngài Huyền Trang dịch, có nhiều chỗ giống nhau và tương đương với Hai vạn năm nghìn bài tụng Bát Nhã bằng tiếng Phạm hiện còn. [X. bài Tựa trong Đệ nhị hội kinh Đại Bát Nhã; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 2.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 6.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 2.].