Phật Thập Nhất Trì
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Mười một phưong thức trụ trì của đức Phật:
1. Phật trì: Thân Sắc Tướng của Như Lai trụ trì nơi Thế Gian có năng lực làm cho hạt giống Phật trong Chúng Sinh không bị dứt mất.
2. Pháp Trì: Pháp Pháp Tính của Như Lai trụ trì nơi Thế Gian có năng lực làm cho hạt giống pháp của Chúng Sinh không dứt mất.
3. Tăng trì: Như Lai ứng hóa Bồ Tát Thánh Tăng trụ trì nơi Thế Gian, có năng lực làm cho hạt giống tăng của Chúng Sinh không bị đoạn diệt.
4. Nghiệp trì: Như Lai thấy các Chúng Sinh tạo tác Ác Nghiệp, cho nên Thị Hiện thế lực mạnh mẽ buộc phải tu thiện, như vua Vô yếm túc giả hiện tạo Ác Nghiệp để giáo hóa các Chúng Sinh.
5. Phiền Não trì: Như Lai thấy các Chúng Sinh làm các hạnh tà, tham đắm Phiền Não, nên tùy theo loài ấy mà Thị Hiện Tham Dục, như đối với người con gái Bà Tu Mật Đa giả làm việc Dâm Dục, khiến cô ta nhập thiền định mà diệt trừ Phiền Não.
6. Thời trì: Khi Như Lai mới phát tâm, lấy Đại Nguyện Bồ Đề làm thể, luôn luôn tưới tẩm, không lúc nào gián đoạn.
7. Nguyện trì: Thủa xưa, lúc Như Lai còn ở địa vị tu nhân, phát Thệ Nguyện rộng lớn, tu các Công Đức, giữ gìn không để mất.
8. Cúng dường trì: Thủa Quá Khứ, lúc Như Lai trong giai đoạn tu hành, đã đem các vật cúng dâng lên các đức Như Lai trong 10 phương để cúng dường.
9. Hành Trì:Thủa xưa, Như Lai siêng tu hết thảy diệu hạnh Thù Thắng, vô lượng vô biên không hề nhàm chán.
10. Kiếp trì: Trong vô lượng kiếp, Như Lai đã tu đầy đủ các Công Đức Phạm Hạnh mà chứng được quả, trụ trì qua nhiều kiếp, giáo hóa Chúng Sinh.
11. Trí trì: Như Lai tròn đủ công hạnh, chứng được Nhất Thiết Chủng Trí, rồi dùng trí tuệ biệntài nói tất cả pháp, Điều Phục Chúng Sinh, không để lui mất. [X. Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 52.; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 23.].
1. Phật trì: Thân Sắc Tướng của Như Lai trụ trì nơi Thế Gian có năng lực làm cho hạt giống Phật trong Chúng Sinh không bị dứt mất.
2. Pháp Trì: Pháp Pháp Tính của Như Lai trụ trì nơi Thế Gian có năng lực làm cho hạt giống pháp của Chúng Sinh không dứt mất.
3. Tăng trì: Như Lai ứng hóa Bồ Tát Thánh Tăng trụ trì nơi Thế Gian, có năng lực làm cho hạt giống tăng của Chúng Sinh không bị đoạn diệt.
4. Nghiệp trì: Như Lai thấy các Chúng Sinh tạo tác Ác Nghiệp, cho nên Thị Hiện thế lực mạnh mẽ buộc phải tu thiện, như vua Vô yếm túc giả hiện tạo Ác Nghiệp để giáo hóa các Chúng Sinh.
5. Phiền Não trì: Như Lai thấy các Chúng Sinh làm các hạnh tà, tham đắm Phiền Não, nên tùy theo loài ấy mà Thị Hiện Tham Dục, như đối với người con gái Bà Tu Mật Đa giả làm việc Dâm Dục, khiến cô ta nhập thiền định mà diệt trừ Phiền Não.
6. Thời trì: Khi Như Lai mới phát tâm, lấy Đại Nguyện Bồ Đề làm thể, luôn luôn tưới tẩm, không lúc nào gián đoạn.
7. Nguyện trì: Thủa xưa, lúc Như Lai còn ở địa vị tu nhân, phát Thệ Nguyện rộng lớn, tu các Công Đức, giữ gìn không để mất.
8. Cúng dường trì: Thủa Quá Khứ, lúc Như Lai trong giai đoạn tu hành, đã đem các vật cúng dâng lên các đức Như Lai trong 10 phương để cúng dường.
9. Hành Trì:Thủa xưa, Như Lai siêng tu hết thảy diệu hạnh Thù Thắng, vô lượng vô biên không hề nhàm chán.
10. Kiếp trì: Trong vô lượng kiếp, Như Lai đã tu đầy đủ các Công Đức Phạm Hạnh mà chứng được quả, trụ trì qua nhiều kiếp, giáo hóa Chúng Sinh.
11. Trí trì: Như Lai tròn đủ công hạnh, chứng được Nhất Thiết Chủng Trí, rồi dùng trí tuệ biệntài nói tất cả pháp, Điều Phục Chúng Sinh, không để lui mất. [X. Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 52.; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q. 23.].