Phật Đà Ba Lợi

《佛陀波利》 fó tuó bō lì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Buddha-Pàla. Hán dịch: Giác hộ. Cao Tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn Độ, đến Trung Quốc Dịch Kinh vào đời nhà Đường. Sư đi tham bái khắp các linh tích, vì đạo quên mình, nghe nói Bồ Tát Văn thù ở núi Thanh hương, sư vượt qua sa mạc đến chiêm lễ. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, sư lên núi Ngũ đài chí thành Lễ Bái, gặp 1 ông già thần dị chỉ giáo, sư trở về nước Kế tân, thỉnh kinh Tôn Thắng Đà La Ni bản tiếng Phạm, rồi lại đến kinh đô nhà Đường. Năm Nghi phụng thứ 4 (679), vua Cao tông ban sắc cho các vị Nhật chiếu và Đỗ hành khải Phiên Dịch Bản Kinh ấy. Nhưng khi dịch xong, vua giữ lại trong cung, sư tâu vua xin trả lại bản tiếng Phạm, rồi sư đem đến chùa Tây minh, cùng với 1 tăng thông hiểu tiếng Phạm là ngài Thuận trinh, dịch ra chữ Hán, với tựa đề là: Kinh Phật đính Tôn Thắng Đà La Ni. Kinh này, ngoài 2 bản dịch ghi trên còn có 7 bản dịch khác, trong đó, bản dịch của sư lưu hành rất rộng. Sau khi dịch xong, sư đem bản tiếng Phạm vào núi Ngũ đài. Sư còn Dịch Kinh Trường thọ Diệt Tội hộ chư Đồng Tử Đà La Ni, 1 quyển. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 9.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 5.; Tống Cao Tăng Truyện Q. 2.]. Phật Đà Bạt Đà La (359-429 ) Phạm: Buddhabhadra. Cũng gọi Phật độ Bạt Đà La, Phật đại bạt đà, Phật Đà bạt đà. Hán dịch: Giác hiền, Phật hiền. Cao Tăng người Bắc Ấn Độ, sống vào thế kỉ V, ở thành Na ha lợi, họ Thích, là con cháu của vua Cam lộ phạn, thành Ca tì la vệ. Sư Xuất Gia năm 13 tuổi, siêng năng tu tập, học rộng các kinh, đặc biệt tinh thông Thiền, Luật. Sau, cùng với bạn đồng học là Tăng Già đạt đa, sư đến nước Kế tân, theo ngài Phật Đại Tiên học Thiền pháp. Ở đây, sư gặp ngài Trí nghiêm và nhận lời mời đi Trung Quốc. Khoảng năm Hoằng thủy thứ 10 (408) đời Hậu Tần, sư đến Trường an, hoằng Truyền Pháp Thiền, nhưng vì không quen với nếp sống ở Trường an, lại không hợp với các Đệ Tử củangàiLa thập, nên sư cùng với hơn 40 Đệ Tử như ngài Tuệ quán rời Trường an, lưu lại mấy năm chỗ ngài Tuệ viễn, núi Lô Sơn, Dịch Kinh Đạt Ma Đa La thiền. Năm Nghĩa hi 11 (415), sư đến Kiến khang (nay là Nam Kinh), dừng lại ở chùa Đạo Tràng, chuyên việc Dịch Kinh. Sư dịch chung với ngài Pháp Hiển luật Ma Ha Tăng Kì và kinh Đại Bát Nê Hoàn. Sau, sư một mình Dịch Kinh Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm 60 quyển. Các kinh do sư dịch gồm 13 bộ, 125 quyển. Năm Nguyên gia thứ 6 (429) đời Lưu Tống, sư Thị Tịch, thọ 71 tuổi người đời gọi sư là Thiên Trúc Thiền Sư, là 1 trong 18 bậc Cao hiền ở núi Lô Sơn. [X. Xuất Tam Tạng kí tập Q. 2., 3; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 7.; Lương Cao Tăng Truyện Q. 2., 3; Hoa Nghiêm Kinh Truyện Kí Q. 1.; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 26., 36; Tùy thư kinh tịch chí 4].