Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc

《法處所攝色》 fǎ chù suǒ shè sè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Đọa pháp xứ sắc, Pháp xứ sắc. Sắc Pháp thứ 11 trong 11 Sắc Pháp do tông Duy Thức thành lập. Tông Duy Thức chia tất cả các pháp làm 5 loại, gọi là Ngũ Vị, gồm: Sắc Pháp, Tâm Pháp, Tâm Sở Hữu Pháp, Tâm bất tương ứng Hành PhápVô Vi pháp. Trong đó, Sắc Pháp, nói theo nghĩa rộng là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại, có tính cách biến đổi, hư hoại và chướng ngại. Sắc Pháp lại được chia làm 11 loại gồm: 5 căn(nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân), 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc)Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc. Chữ xứ của Pháp xứ có nghĩa là sinh ra và nuôi lớn tâm và Tâm Sở, đồng thời là chỗ để cho tâm và Tâm Sở nương tựa và vin theo, được chia làm 12 thứ, gọi là Thập Nhị Xứ, tức là 5 căn đã nói ở trên thêm vào căn thứ 6 là ý căn, 5 cảnh thêm vào cảnh thứ 6 là Pháp Cảnh. Pháp Cảnh tức là pháp xứ trong 12 xứ, chỉ có điều Pháp Cảnh là đối cảnh khách quan của ý căn(Tác Dụng Chủ Quan), còn pháp xứ thì nói rõ nhiệm vụ của nó cùng với 11 xứ kia đều là nuôi lớn tâm và Tâm Sở, hơn nữa, là chỗ để cho tâm và Tâm Sở nương tựa, vin theo. Trong tất cả Sắc Pháp, bất cứ pháp nào, hễ được thu nhiếp vào pháp xứ thì đều gọi là Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc. Cứ theo luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập quyển 1 và Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 5 phần cuối, thì Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc lại có thể được chia nhỏ ra làm 5 loại là:
1. Cực Lược Sắc: Chỉ cho tất cả pháp cực nhỏ (cực vi) mà vẫn có tính chất chướng ngại.2. Cực huýnh sắc, cũng gọi Tự ngại sắc: Chỉ cho những Hiển Sắc của Không giới không đủ tính chất chướng ngại, như sáng, tối...
3. Thụ sở dẫn sắc, cũng gọi Vô Biểu Sắc: Chỉ cho Sắc Pháp vô hình, nương vào 2 nghiệp thiện và ác phát động nơi thân, khẩu, rồi khởi lên ở trong thân chứ không biểu hiện ra ngoài. Chẳng hạn như do giữ giới mà dẫn sinh 1 loại Tác Dụng tinh thần ngăn ngừa được tội lỗi. Vì được xem là do 4 đại đất, nước, lửa, gió ở trong thân tạo ra, cho nên được liệt vào loại Sắc Pháp.
4. Biến Kế Sở Khởi Sắc: Ý thức duyên theo 5 căn, 5 cảnh mà sản sinh ra Tác Dụng tính toán, so đo, Phân Biệt tất cả 1 cách Hư Vọng, rồi trong tâm biến hiện ra bóng dáng của Sắc Pháp, như hoa đốm giữa Hư Không, bóng mặt trăng dưới đáy nước, Ảnh Tượng trong gương... đều được thu nhiếp vào loại Sắc Pháp này. Loại Sắc Pháp này chỉ có bóng dáng chứ hoàn toàn không có Bản Chất tự thể để nương tựa.
5. Định Tự Tại sở sinh sắc, cũng gọi Định sở sinh sắc, Định sở dẫn sắc, Thắng Định Quả Sắc, Định Quả Sắc, Tự Tại sở sinh sắc. Chỉ cho các cảnh sắc, thanh, hương, vị... do sức thiền định biến hiện ra. Loại Sắc Pháp này nhờ sức thiền định Thù Thắng, đối với tất cả Sắc Pháp, có năng lực biến hiện 1 cách Tự Tại vô ngại, cho nên gọi là Định Tự Tại sở sinh sắc. Ngoài ra, theo Duy Thức Đại Thừa, thì trong 5 loại Sắc Pháp nói trên, 4 loại trước đều là giả sắc, chỉ có loại thứ 5 là thông cả giả lẫn thực. Hễ sắc do bậc Thánh biến hiện thì đều là thực sắc. Vì uy lực thắng định của bậc Thánh là 1 loại định vô lậu, Sắc Pháp do định vô lậu biến hiện ra là thực sắc. Nhưng, nếu nói theo quan điểm của Thuyết Nhất Thiết bộ Tiểu Thừa, thì Cực Lược Sắc, Cực huýnh sắc, cho đến Thụ sở dẫn sắc... đều là thực sắc có tự thể. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 74., 75; luận Du Già sư địa Q. 3., 37; luận Thuận chính lí Q. 35.; luận Thành Duy Thức Q. 1.; Thành duy thứcluận thuật kí Q. 3.].