Pháp Thân

《法身》 fǎ shēn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: dharma-kāya: tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân () và Ứng Thân (). Với ý nghĩa là Thân Thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý Tánh Không Sắc Không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của Chân Như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật Pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (, sự Diệu Dụng của giác ngộ). Hơn nữa, Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, , 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (), Ngũ Phần Pháp Thân ()Thật Tướng Pháp Thân (). Pháp Hóa Sanh Thân là Hóa Thân Phật do Pháp Tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp ThânThân Thể có 5 phần Công Đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp ThânThật Tướng của các pháp vốn có Tánh Không. Bên cạnh đó, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (, CBETA No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, Chơn Như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô dộ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến Nhất Thiết (, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm Chơn Như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân này không Quốc Độ nào có thể đến, không Quốc Độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).”