Pháp Hoa Tam Bộ Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ cho 3 bộ kinh: Vô lượng nghĩa, Diệu Pháp Liên Hoa và Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp.
1. Kinh Vô lượng nghĩa: 1 quyển, do ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá dịch vào đời Tiêu Tề. Ý chỉ của kinh này nói về Pháp Thực tướng. Các ngài Tuệ cơ và Trí Khải đều cho rằng kinh này là Vô lượng nghĩa giáo Bồ Tát pháp được biểu thị trong kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 2 của mình, ngài Cát Tạng cũng đã dựa vào 5 nghĩa: Xứ đồng, chúng số Đại Đồng, thời tiết đồng, nghĩa đồng và lời nói của người Dịch Kinh, mà cho rằng kinh này chính là kinh đã được biểu thị trong Pháp hoa. Xưa nay, kinh này vốn được xem là kinh mở đầu của kinh Pháp hoa.
2. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: 7 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần. Bộ kinh này được lưu truyền rất rộng, ngài Trí Khải đã nương vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai.
3. Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp: Gọi tắt: Kinh Quán Phổ Hiền, 1 quyển, do ngài Đàm Ma Mật Đa dịch vào đời Lưu Tống. Kinh này nương theo phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát–phẩm cuối cùng của kinh Pháp hoa– mà nói về phương pháp và Công Đức Quán Tưởng Bồ Tát Phổ Hiền, được coi là kinh kết thúc của kinh Pháp hoa.
1. Kinh Vô lượng nghĩa: 1 quyển, do ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá dịch vào đời Tiêu Tề. Ý chỉ của kinh này nói về Pháp Thực tướng. Các ngài Tuệ cơ và Trí Khải đều cho rằng kinh này là Vô lượng nghĩa giáo Bồ Tát pháp được biểu thị trong kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 2 của mình, ngài Cát Tạng cũng đã dựa vào 5 nghĩa: Xứ đồng, chúng số Đại Đồng, thời tiết đồng, nghĩa đồng và lời nói của người Dịch Kinh, mà cho rằng kinh này chính là kinh đã được biểu thị trong Pháp hoa. Xưa nay, kinh này vốn được xem là kinh mở đầu của kinh Pháp hoa.
2. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: 7 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần. Bộ kinh này được lưu truyền rất rộng, ngài Trí Khải đã nương vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai.
3. Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp: Gọi tắt: Kinh Quán Phổ Hiền, 1 quyển, do ngài Đàm Ma Mật Đa dịch vào đời Lưu Tống. Kinh này nương theo phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát–phẩm cuối cùng của kinh Pháp hoa– mà nói về phương pháp và Công Đức Quán Tưởng Bồ Tát Phổ Hiền, được coi là kinh kết thúc của kinh Pháp hoa.