Pháp Danh

《法名》 fǎ míng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên gọi do người Phật tử thọ trì sau khi quy y Phật Giáo, còn gọi là Pháp Hiệu (), Pháp Húy (), Giới Danh (). Đối với tăng lữ, đây là tên gọi do vị thầy ban cho sau khi cử hành lễ Xuất Gia. Đối với người Phật tử Tại Gia, đây là tên gọi được ban cho sau khi quy y, thọ giới, hay khi tiến hành tang lễ. Pháp Danh còn là biểu tượng thiêng liêng đánh dấu bước thay đổi cuộc sống tâm linh của người Phật tử khi thật sự bước chân vào Đạo. Đối với Thế Tục, khi con người mới sinh ra được cha mẹ đặt cho cái tên, đó là Tục Danh (); khi vị ấy chuyển hóa Tâm Thức, Quyết Định quy y theo Phật Giáo, có nghĩa là được sanh ra lần thứ hai; tên gọi lúc này là Pháp Danh. Nó thể hiện việc Xuất Gia hay quy y trở thành Đệ Tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni, Pāli: Sakyamuni); cho nên đối với người Xuất Gia, thường có chữ “Thích ()” đi theo với Pháp Danh như Thích Từ Thiện (), v.v. Về phía Phật tử Tại Gia, do có khác nhau về giới tính, tuổi tác; vì vậy sau Pháp Danh thường có thêm các Danh Hiệu khác như Cư Sĩ (), Tín Sĩ (), Đại Tỷ (), Tín Nữ (), Đồng Tử (), Đồng Nữ (), v.v.; như Thanh Liên Cư Sĩ (), Chân Tâm Tín Nữ (), v.v. Đối với truyền thống đang Hiện Hành của Việt Nam, Pháp Danh có 2 chữ; chư Tăng Xuất Gia thường có chữ “Thích” trước Pháp Danh, như Thích Huệ Học (), v.v.; chư Ni Xuất Gia thường có chữ “Thích Nữ ()” trước Pháp Danh, như Thích Nữ Huệ Học (), v.v. Cách đặt Pháp Danh được tuân theo thứ tự của các chữ trong các bài kệ do chư vị tổ đức thuộc dòng phái đặt ra. Như Môn Phái Thập Tháp Di Đà ở Bình Định dùng bài kệ của Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy: “Tổ đạo giới định tông, phương quảng chứng Viên Thông, hành siêu minh thật tế, Liễu Đạt ngộ chơn không, như Nhật Quang thường chiếu, phổ châu lợi Nhân Thiên, Tín Hương sanh phước tuệ, tương kế chấn từ phong ().” Trong khi đó, Môn Phái Liễu Quán tại Huế thì đặt Pháp Danh theo bài kệ của Tổ Sư Thật Diệu Liễu Quán (, 1670-1742): “Thật tế đại đạo, tánh Hải Thanh trừng, tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong, giới định phước tuệ, Thể Dụng Viên Thông, vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công, truyền trì Diệu Lý, Diễn Sướng chánh tông, Hành Giải Tương Ưng, đạt ngộ chơn không ().” Môn Phái Quốc Ân có bài kệ của Tổ Đạo Mân rằng: “Đạo bổn nguyên Thành Phật tổ tiên, minh như hồng nhật lệ trung thiên, Linh Nguyên quảng nhuận từ phong phổ, chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền ().” Tại Quảng Nam, Dòng Chúc Thánh thì dùng bài kệ truyền thừa pháp phái của Tổ Minh Hải Pháp Bảo: “Minh thật Pháp Toàn chương, ấn Chơn Như thị đồng, Chúc Thánh thọ thiên cữu, kỳ quốc tộ địa trường, đắc chánh luật vi tuyên, tổ đạo Hành Giải thông, Giác Hoa Bồ Ðề thọ, sung mãn Nhân Thiên trung (滿).” Ngoài ra, còn một số bài kệ khác như bài của ngài Minh Hành Tại Toại ở miền Bắc: “Minh Chân Như Bảo Hải, kim tường phổ chiếu thông, chí đạo thành Chánh Quả, giác ngộ Chứng Chơn không ().” Hay bài kệ của ngài Tri Giáo Nhất Cú: “Tịnh trí Viên Thông tông từ tánh, khoan Giác Đạo sanh thị chánh tâm, mật hạnh nhân đức xưng lương tuệ, đăng phổ chiếu hoằng pháp vĩnh trường ()”, v.v. Đặc biệt, việc đặt Pháp Danh ở Nhật Bản có nét đặc trưng hoàn toàn khác với các nước Phật Giáo Đại Thừa. Tùy theo Tông Phái khác nhau mà Pháp Danh cũng được đặt dưới nhiều hình thức khác nhau, dưới tên gọi là Giới Danh (, kaimyō). Nhìn chung, Giới Danh của Nhật Bản được kết cấu bởi ít nhất 3 yếu tố: Viện Hiệu (, ingō) hay Viện Điện Hiệu (殿, indonogō), Đạo Hiệu (, dōgō) và Vị Hiệu (, igō). Viện Hiệu được dùng cho những người trong lúc sanh tiền có cống hiến to lớn đối với tự viện, Phật Giáo, xã hội. Tỷ dụ như lịch đại chư vị Tướng Quân dưới Thời Đại Thất Đinh (, Muromachi, 1392~1573) và Giang Hộ (, Edo, 1600~1867) đều được đặt cho Viện Hiệu hay Viện Điện Hiệu; như trường hợp Tướng Quân Chức Điền Tín Tú (, Oda Nobuhide, 1510-1551)Giới Danh là Vạn Tùng Tự Đào Nham Đạo Kiến (); Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Tình (, Ashikaga Yoshiharu, 1511-1550) là Vạn Tùng Viện Hoa Sơn Đạo Chiếu (), hay Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (, Oda Nobunaga, 1534-1582)Giới Danh đặc biệt là Tổng Kiến Viện Điện Tặng Đại Tướng Quốc Nhất Phẩm Thái Nham Tôn Nghi (殿), v.v. Vốn phát xuất từ Trung Quốc, được chư vị Thiền tăng truyền vào Nhật, Đạo Hiệu là một tên khác được đặt trước Pháp Danh; như Nhất Hưu Tông Thuần (, Ikkyū Sōjun, 1394-1481)Đạo Hiệu là Nhất Hưu. Trừ Luật Tông, Tịnh Độ Chơn Tông ra, các Tông Phái như Chơn Ngôn Tông, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Lâm Tế Tông, Tào Động Tông, Nhật Liên Tông đều dùng đến Đạo Hiệu này. Vị Hiệu là tên gọi được đặt sau cùng của Giới Danh để Phân Biệt về giới tính, tuổi tác, v.v. Đối với trường hợp thành nhân (người lớn), một số Vị Hiệu được dùng Như Tín(), Tín Nữ (), Thanh Tín Sĩ (), Thanh Tín Nữ (), Cư Sĩ (), Đại Tỷ (), Đại Cư Sĩ (), Thanh Đại Tỷ (), Thiền Định Môn (, dành cho chư Tăng), Thiền Định Ni (, dành cho chư Ni). Đối với trường hợp các em nhỏ thì có Thủy Tử (, dùng cho các thai nhi bị lưu sản, sút sảo tảo sa); Anh Nhi () Anh Tử (), Anh Nữ () dùng cho các trẻ nhỏ đang còn bú mẹ; Hài Tử (), Hài Nữ () dùng cho các em nhỏ khoảng 2-3 tuổi; Đồng Tử (), Đồng Nữ () dùng cho các em từ 4-14 tuổi, v.v.