Pháp Cách Sùng Bái
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Dharma Ràja Pùjà. Chỉ cho 1 dòng Phật giáo ở Ấn Độ Sùng Bái Pháp Không của Bát Nhã. Vào đầu thời đại Vương triều Ba la (Phạm: Pàla), từ thế kỉ IX đến thế kỉ XII, Phật giáo Ấn Độ chia thành 2 dòng Quí tộc và Bình dân. Dòng Quí tộc lấy tư tưởng Bát Nhã làm trung tâm, còn dòng Bình dân thì nghiêng về các pháp tu Mật Giáo Như Kim Cương thừa (Phạm: Vajra-yàna), Thời luân thừa (Phạm: Kàlacakra-yàna), Dị Hành Thừa (Phạm: Sahaja-yàna) Tu nghiệm đạo v.v... Nhưng vua Pháp Hộ (Phạm: Dharmapàla, ở ngôi 780-815) thì cực lực bài xích Mật giáo tả đạo và chủ trương hoằng dương tư tưởng Bát Nhã, đồng thời, dốc sức vào việc phổ biến hóa Phật giáo. Cứ theo tác phẩm Không Phú Lan Na (Phạm:Zùnya Pràịa) của ngài Ramai cho biết, thì Pháp Cách Sùng Bái phát sinh sau thời vua Pháp Hộ vào khoảng thế kỉ
X. Nhưng, vào thế kỉ VIII, người Hồi giáo từng xâm lăng Ấn Độ, rồi đến đầu thế kỉ XII lại xâm lăng 1 lần nữa, lần này họ tiêu diệt vương triều Ba la, cực lực bài trừ Phật giáo, giết hại tăng ni, phá hoại các chùa viện ở vườn Lộc dã, ở Phật Đà già da và Na lan đà. Trong Hoàn Cảnh bi đát ấy, để bảo tồn Tín Ngưỡng của mình, những người theo Pháp Cách Sùng Bái phải thay hình đổi dạng thành những Tín Đồ của Tông Giáo Kì đặc giống như Ấn Độ Giáo. Qua những ngôn ngữ đượm sắc thái tư tưởng không của Bát Nhã thấy rải rác trong tác phẩm Không Phú Lan Na, mà người ta biết được rằng đây chính là 1 phái Phật giáo, không sai, mặc dầu trong ngôn ngữ chưa biểu hiện rõ họ là những Tín Đồ Phật giáo.Pháp Cách Sùng Bái hiện nay vẫn còn tồn tại trong hạ tầng xã hội ở vùng tây nam Bengal. Những tín điều của họ được ghi chép bằng tiếng Phạm và tiếng Bengal. Bản Tôn mà họ thờ cúng cũng là thần tượng kì lạ, hoặc là phiến đá, hoặc là 1 bình nước đầy, thường được đặt trong chùa, tháp, dưới gốc cây hay ở những chỗ đồng hoang. Khi Lễ Bái, trước hết, họ tẩy rửa tượng thần sạch sẽ, dâng đèn, hoa, hương, quả... Nghi thức cúng bái này cũng giống với nghi thức của Ấn Độ Giáo. Điểm về hướng đông. Ngoài ra, Pháp Cách Sùng Bái mỗi năm tổ chức Đại Lễ 1 lần, họ tấu nhạc và ca múa rất tưng bừng trong suốt 12 ngày. [X. Ghanàrama s Dharma-Maígala; Manikganguli’s Dharma-Maígala; Ramai-Paịđita’s Dharma pùjàvidhàna; Ramacarita by H.P. Zàstrì; History of Bengalì Language and Literature by D.C. Sen].
X. Nhưng, vào thế kỉ VIII, người Hồi giáo từng xâm lăng Ấn Độ, rồi đến đầu thế kỉ XII lại xâm lăng 1 lần nữa, lần này họ tiêu diệt vương triều Ba la, cực lực bài trừ Phật giáo, giết hại tăng ni, phá hoại các chùa viện ở vườn Lộc dã, ở Phật Đà già da và Na lan đà. Trong Hoàn Cảnh bi đát ấy, để bảo tồn Tín Ngưỡng của mình, những người theo Pháp Cách Sùng Bái phải thay hình đổi dạng thành những Tín Đồ của Tông Giáo Kì đặc giống như Ấn Độ Giáo. Qua những ngôn ngữ đượm sắc thái tư tưởng không của Bát Nhã thấy rải rác trong tác phẩm Không Phú Lan Na, mà người ta biết được rằng đây chính là 1 phái Phật giáo, không sai, mặc dầu trong ngôn ngữ chưa biểu hiện rõ họ là những Tín Đồ Phật giáo.Pháp Cách Sùng Bái hiện nay vẫn còn tồn tại trong hạ tầng xã hội ở vùng tây nam Bengal. Những tín điều của họ được ghi chép bằng tiếng Phạm và tiếng Bengal. Bản Tôn mà họ thờ cúng cũng là thần tượng kì lạ, hoặc là phiến đá, hoặc là 1 bình nước đầy, thường được đặt trong chùa, tháp, dưới gốc cây hay ở những chỗ đồng hoang. Khi Lễ Bái, trước hết, họ tẩy rửa tượng thần sạch sẽ, dâng đèn, hoa, hương, quả... Nghi thức cúng bái này cũng giống với nghi thức của Ấn Độ Giáo. Điểm về hướng đông. Ngoài ra, Pháp Cách Sùng Bái mỗi năm tổ chức Đại Lễ 1 lần, họ tấu nhạc và ca múa rất tưng bừng trong suốt 12 ngày. [X. Ghanàrama s Dharma-Maígala; Manikganguli’s Dharma-Maígala; Ramai-Paịđita’s Dharma pùjàvidhàna; Ramacarita by H.P. Zàstrì; History of Bengalì Language and Literature by D.C. Sen].