Phạm Tán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm:Stotra. Bài văn khen ngợi Công Đức của Phật, Bồ Tát bằng tiếng Phạm. Những bài ca tán thịnh hành ở Ấn Độ gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán của ngài Mã Minh (có thuyết nói của ngàiMa hí lí chế tra); ngài Trần na dựa vào Ngũ bách ngũ thập tán(150 bài tán), mỗi bài họa thêm 1 bài tụng mà thành Tạp tán tam bách tụng (300 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Rồi ngài Thích Ca Đề Bà lại thêm vào cho 150 bài tán của ngài Trần na mỗi bài 1 bài tụng nữa mà tập thành Tạp tán tứ bách ngũ thập tụng(450 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Ngoài ra còn có Tô hiệt lí li khư (Phạm: Suhfdalekha, Mật hữu thư) của ngài Long Thụ và Phật sở hành tán của ngài Mã Minh. Những bài ca tán của Phật giáo Ấn Độ là 1 thể loại văn học Thi Ca cung đình (Phạm: Kàvya), phỏng theo ngữ pháp của thi phẩm Anh hùng ca Ma La da na (Phạm: Ràmàyaịa), đồng thời, dùng âm luật phú vịnh để họa theo. Do đó, những tác phẩm thuộc loại ca tán ấy, khi được dịch sang Hán văn, thì có bản chỉ dịch lấy ý, mà cũng có bản chỉ dịch theo âm Phạm thôi. Chẳng hạn như các bài: Tam Thân Phạm Tán, Phật Tam Thân Tán, Phật Nhất Bách Bát danh tán, Phật Cát Tường đức tán, Bát Đại Linh Tháp Phạm Tán, Tán Pháp Giới tạng, Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh v.v... [X. Nam hải kí qui Nội Pháp truyện Q. 4.; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 4.; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M. Winternitz; Sanskrit Literature by A.A. Macdonell].