Nhị Ngộ

《二悟》 èr wù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Nhị Ngộ. Chỉ cho Đốn NgộTiệm Ngộ. Đốn Ngộ là trực tiếp ngộ ngay vào Chân Lí tột cùng, còn Tiệm Ngộ là giác ngộ dần dần theo thứ lớp. Tông Pháp tướng cho rằng Bồ TátĐịnh Tính không cần phải trải qua quá trình Thanh Văn, Duyên Giác mà tiến thẳng lên địa vị Bồ Tát, gọi là Đốn Ngộ Bồ Tát. Còn những người có chủng tính Bất Định phải trải qua quá trình Thanh Văn, Duyên Giác mới vào được đạo Bồ Tát, thì gọi là Tiệm Ngộ Bồ Tát.
II. Nhị Ngộ. Chỉ cho Ngộ Tha (Phạm: Paràrtha) và Tự ngộ (Phạm: Svàrtha). Tiếng dùng trong Nhân Minh. Ngộ Tha là làm cho người khác hiểu rõ, cũng tức là làm cho người khác có được Chính Trí. Còn Tự ngộ là làm cho chính mình Liễu Ngộ, cũng tức là làm cho chính mình có được Chính Trí. Người lập luận dùng ngôn ngữ làm cho người vấn nạn và người Chứng Nghĩa(trọng tài)hiểu rõ chính lí, gọi là Ngộ Tha. Còn người lập luận thì trước hết cần phải tự ngộ rồi sau mới Ngộ Tha được. Vì Nhị Ngộ có 2 điều Lợi Ích là Tự ngộ và Ngộ Tha, cho nên cũng gọi là Nhị Ích. Tự ngộ và Ngộ Tha mỗi bên đều có 4 môn, gọi chung là Nhân Minh Bát Môn (Tám môn Nhân Minh). [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Minh Bát Môn).