Nhị Chủng Pháp Thân
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Hai loại Pháp Thân. Trong các kinh luận, về chủng loại và tên gọi của 2 loại Pháp Thân này có khác nhau.
1. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Sớ quyển 10 vàkinh Kim Quang Minh, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Lí Pháp Thân: Lí tức là Tính Đức; nghĩa là lí tính của Bản Giác xưa nay vốn trong sáng, lìa niệm, giống như Hư Không, bao trùm tất cả, chư Phật và Chúng Sinh đều cùng 1 tướng, nhưng ở Chúng Sinh thì bị Vô Minh che lấp, còn ở chư Phật thì được Thủy Giác hiển bày, gọi là Lí Pháp Thân. b) Trí Pháp Thân: Trí tức là tu đức; nghĩa là trí Thủy Giác rốt ráo phù hợp với trí Bản Giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc tâm không 2, trí được hiển hiện, gọi là Trí Pháp Thân.2. Cứ theo luận Kim Cương Bát Nhã quyển thượng, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Ngôn Thuyết Pháp Thân: Pháp Thân vốn không có hình tướng, xa lìa nói năng; tuy xa lìa nói năng, nhưng nếu không nhờ nói năng thì không được hiển bày, nên gọi là Ngôn Thuyết Pháp Thân. b) Chứng Đắc Pháp Thân: Thể Pháp Thân trùm khắp, Chúng Sinh đều có đủ, nhưng vì mê muội nên thể Pháp Thân không hiển lộ ra được, bởi thế đem trí của Thủy Giác khế hợp với lí của Bản Giác, Thủy Giác và Bản Giác không 2, tức là Cứu Cánh Giác, cho nên gọi là Chứng Đắc Pháp Thân.
3. Theo luận Kim Cương Bát Nhã quyển thượng của ngài Vô trước, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Trí tướng Pháp Thân: Chỉ cho tướng có đầy đủ trí tuệ, khéo diễn nói các pháp, do tướng trí tuệ này mà đến được trụ xứ của Pháp Thân, vì thế nên gọi là Trí tướng Pháp Thân.b) Phúc Tướng Pháp Thân: Chỉ cho phúc tướng Thụ Trì, diễn nói giáo pháp còn hơn cả Bố Thí bảy thứ báu; nhờ phúc tướng này mà đến được trụ xứ của Pháp Thân, vì thế nên gọi là Phúc Tướng Pháp Thân.
4. Theo Vãng Sinh Luận chúquyển hạ, 2 loại Pháp Thân là: a) Pháp Tính Pháp Thân: Chân Thân của Phật chứng được lí thể tính pháp hàm nhiếp trong Pháp Thân và Báo Thân. b) Phương Tiện Pháp Thân: Ứng Hóa Thân của Phật từ Pháp Tính Pháp Thân Thị Hiện Phương Tiện giáo hóa làm Lợi Ích Chúng Sinh.
5. Theo kinh Bồ Tát Anh Lạc quyển thượng, 2 loại Pháp Thân là: a) Pháp Tính thân: Chỉ cho thực trí sinh ra từ Pháp Tính. b) Ứng hóa Pháp Thân: Chỉ cho tất cả thân do Pháp Tính thân ứng hiện.
6. Theo kinh Bồ Tát anh lạcquyển hạ, 2 loại Pháp Thân là: a) Quả Cực Pháp Thân: Tức là Pháp Tính Pháp Thân. b) Ứng hóa Pháp Thân: Tức là Phương Tiện Pháp Thân. Ứng hóa Pháp Thân như bóng theo hình, vì quả thân là thường, nên Ứng thân cũng là thường.
7. Theo luận Báo tínhquyển 4, 2 loại Pháp Thân là: a) Tịch Tĩnh Pháp Thân. b) Nhân Thân đắc Tịch Tĩnh Pháp Thân.
8. Ngài Nguyên chiếulập 2 loại Pháp Thân là: a) Lí Pháp Thân: Chân Lí do đức Như Lai chứng được. b) Sự Pháp Thân: Pháp Công Đức của 5 phần: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. [X. Tứ phần Luật Hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 3].
1. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Sớ quyển 10 vàkinh Kim Quang Minh, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Lí Pháp Thân: Lí tức là Tính Đức; nghĩa là lí tính của Bản Giác xưa nay vốn trong sáng, lìa niệm, giống như Hư Không, bao trùm tất cả, chư Phật và Chúng Sinh đều cùng 1 tướng, nhưng ở Chúng Sinh thì bị Vô Minh che lấp, còn ở chư Phật thì được Thủy Giác hiển bày, gọi là Lí Pháp Thân. b) Trí Pháp Thân: Trí tức là tu đức; nghĩa là trí Thủy Giác rốt ráo phù hợp với trí Bản Giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc tâm không 2, trí được hiển hiện, gọi là Trí Pháp Thân.2. Cứ theo luận Kim Cương Bát Nhã quyển thượng, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Ngôn Thuyết Pháp Thân: Pháp Thân vốn không có hình tướng, xa lìa nói năng; tuy xa lìa nói năng, nhưng nếu không nhờ nói năng thì không được hiển bày, nên gọi là Ngôn Thuyết Pháp Thân. b) Chứng Đắc Pháp Thân: Thể Pháp Thân trùm khắp, Chúng Sinh đều có đủ, nhưng vì mê muội nên thể Pháp Thân không hiển lộ ra được, bởi thế đem trí của Thủy Giác khế hợp với lí của Bản Giác, Thủy Giác và Bản Giác không 2, tức là Cứu Cánh Giác, cho nên gọi là Chứng Đắc Pháp Thân.
3. Theo luận Kim Cương Bát Nhã quyển thượng của ngài Vô trước, thì 2 loại Pháp Thân là: a) Trí tướng Pháp Thân: Chỉ cho tướng có đầy đủ trí tuệ, khéo diễn nói các pháp, do tướng trí tuệ này mà đến được trụ xứ của Pháp Thân, vì thế nên gọi là Trí tướng Pháp Thân.b) Phúc Tướng Pháp Thân: Chỉ cho phúc tướng Thụ Trì, diễn nói giáo pháp còn hơn cả Bố Thí bảy thứ báu; nhờ phúc tướng này mà đến được trụ xứ của Pháp Thân, vì thế nên gọi là Phúc Tướng Pháp Thân.
4. Theo Vãng Sinh Luận chúquyển hạ, 2 loại Pháp Thân là: a) Pháp Tính Pháp Thân: Chân Thân của Phật chứng được lí thể tính pháp hàm nhiếp trong Pháp Thân và Báo Thân. b) Phương Tiện Pháp Thân: Ứng Hóa Thân của Phật từ Pháp Tính Pháp Thân Thị Hiện Phương Tiện giáo hóa làm Lợi Ích Chúng Sinh.
5. Theo kinh Bồ Tát Anh Lạc quyển thượng, 2 loại Pháp Thân là: a) Pháp Tính thân: Chỉ cho thực trí sinh ra từ Pháp Tính. b) Ứng hóa Pháp Thân: Chỉ cho tất cả thân do Pháp Tính thân ứng hiện.
6. Theo kinh Bồ Tát anh lạcquyển hạ, 2 loại Pháp Thân là: a) Quả Cực Pháp Thân: Tức là Pháp Tính Pháp Thân. b) Ứng hóa Pháp Thân: Tức là Phương Tiện Pháp Thân. Ứng hóa Pháp Thân như bóng theo hình, vì quả thân là thường, nên Ứng thân cũng là thường.
7. Theo luận Báo tínhquyển 4, 2 loại Pháp Thân là: a) Tịch Tĩnh Pháp Thân. b) Nhân Thân đắc Tịch Tĩnh Pháp Thân.
8. Ngài Nguyên chiếulập 2 loại Pháp Thân là: a) Lí Pháp Thân: Chân Lí do đức Như Lai chứng được. b) Sự Pháp Thân: Pháp Công Đức của 5 phần: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. [X. Tứ phần Luật Hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 3].