Nao Bạt

《鐃鈸》 náo bó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Một trong những thứ Pháp Khí bằng vàng hoặc đồng, được dùng trong các chùa viện. Nao và Bạt vốn là 2 loại nhạc khí khác nhau, người đời sau gọi chung là Nao Bạt, ta quen đọc là Nạo bạt. Nao, có 2 loại vàng hoặc đồng. Theo sách Chu lễ, Lễ kí thì nao vàng dùng để đánh khi lui quân hoặc xuống sân khấu lúc nhảy múa xong. Hình dáng nao vàng giống như cái bàn là, có cán, xoa vào nhau thì phát ra tiếng xoang xoảng, cho nên gọi là Nao. Còn nao đồng tức là cái gõ nhịp bằng đồng, kiểu dáng hoàn toàn khác với nao vàng mà giống như Đồng Bạt, nhưng nhỏ hơn, do 2 cái hợp thành, âm thanh cũng trong trẻo nên tục gọi là Nao. Bạt, cũng gọi Đồng Bạt, Đồng Bạt tử, Đồng bát tử, Đồng bàn; được làm bằng đồng, hình tròn, ở giữa có cái núm tròn lồi lên, chính giữa núm tròn này khoan 1 lỗ nhỏ, xỏ sợi dây để cầm; bên trong cái lỗ có cái nút giữ cho sợi dây khỏi lọt. Khi sử dụng, dùng 2 tay, mỗi tay cầm 1 mặt Đồng Bạt, chập vào nhau thì phát ra tiếng. Cứ theo Luật thư nhạc đồ thì Đồng Bạt tử bắt nguồn từ Tây vực, không có cán, dùng da làm dây, chập vào nhau theo đúng nhịp gõ, những dân tộc phương Đông thường sử dụng loại nhạc khí này. Còn theo các sách thông thường thì Đồng Bạt có xuất xứ từ các giống người Tây nhung, Nam Man..., cái núm tròn lồi lên ở chính giữa có vài tấc, cũng có khi đến vài thước. Trong các bức bích họa đào được ở Bzklik thuộc vùng Trung á, những bức Tịnh Độ Biến Tướng phát hiện ở Đôn hoàng, trong hội Hư Không của Đương Ma Mạn Đồ La ở Nhật bản và trong bức tranh A di đà Nhị Thập Ngũ Bồ Tát lai nghinh v.v... đều có hình vẽ của loại nhạc khí này. [X. kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 14.; luật Ma Ha Tăng Kì Q. 33.; điều Nao Bạt, chương Pháp Khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Kết xã pháp tập trong Đại Tống Tăng Sử Lược Q.hạ; môn Bái Khí trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên].

Nao Bạt. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/nao-bat. Truy cập 06/04/2026.